Có thể tiếp cận với những vấn đề của con người và văn hoá từ nhiều
góc độ. Từ cách tiếp cận phân tích các “đợt sóng” xã hội, Alvin Toffler[1] đã hình dung lịch sử phát triển
các nền văn minh như một sự nối tiếp nhau liên tục của các lớp sóng và cùng với
nó là sự vận động của con người và văn hoá như những thành tố quan trọng tạo
nên chỉnh thể xã hội loài người, với những nét thăng trầm và không ngừng thay
đổi.
Trong cuốn sách nổi tiếng của mình “Đợt sóng thứ ba”[2], Alvin Toffler đã ẩn dụ các đợt sóng để chỉ các nền văn minh loài người, chúng không ngừng xô đẩy, va
chạm, ảnh hưởng qua lại, thách thức và phủ nhận lẫn nhau - tượng trưng cho sự
tồn tại và phát triển xã hội. Trên thực tế, khi nền kinh tế thay đổi, cũng
thường kéo theo sự biến đổi của các yếu tố tâm lý, văn hoá, của những quan niệm
truyền thống và thậm chí cả thể chế xã hội.
Trong phân tích các đợt sóng văn minh, Alvin
Toffler không chỉ chú ý đến mặt sóng, mà đặc biệt quan tâm đến những quãng
ngắt, những thời điểm gián đoạn của sự phát triển, để rồi lại có những sáng tạo
mới điều chỉnh xã hội. Nhìn về "bộ mặt thế giới" với những biến đổi
cực kỳ mạnh mẽ và phức tạp. Bên cạnh những thành tựu kỳ diệu, những bước tiến
phi thường của trí tuệ loài người về khoa học, kỹ thuật và công nghệ v.v.., thì
đồng thời cũng là những biểu hiện xuống cấp về nguồn năng lượng và môi trường
sinh thái toàn cầu, về mối quan hệ của các thành viên gia đình và xã hội, về
lòng tin vào con người dường như cũng bị giảm sút v.v..
Alvin Toffler coi các nền văn minh như một
chỉnh thể được kết hợp, thay thế lẫn nhau của 4 yếu tố: kỹ quyển(khoa học kỹ thuật), thông tin quyển (công nghệ thông tin), xã quyển (văn hoá) và tâm quyển (niềm tin). Trong tương quan trên, ông đã nhìn thấy những nghịch
lý xã hội ngày một gay gắt hơn: bên cạnh sự phát triển của kỹ quyển và thông tin quyển đang được ứng dụng rộng rãi trên mọi lĩnh vực, là sự xuống cấp của xã quyển, khi gia đình hạt nhân tan vỡ,
lối sống đơn thân và ly thân xuất hiện ngày càng cao như một xu thế của xã hội.
Chiến tranh vẫn tiếp diễn giữa nhiều quốc gia, giữa các dân tộc và tôn giáo,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiều thể chế chính trị. Trong bối cảnh đó tâm quyển cũng bị thay đổi dẫn đến sự
phát triển của tự do tín ngưỡng ở mức khó kiểm soát, nhiều giá trị nhân văn
truyền thống bị xâm thực, thậm chí ở đâu đó xuất hiện dấu hiệu suy thoái.
Theo Alvin Toffler, lịch sử nhân loại được hình
dung trôi theo ba đợt sóng lớn - là ba nền văn minh kế tiếp nhau: nền văn minh nông nghiệp, nền văn minh công nghiệp và nền văn minh hậu công nghiệp. Cho tới nay, loài người đã trải qua hai đợt sóng lớn: Đợt sóng Thứ nhất là sự ra đời của nông nghiệp cùng
với nó là nền văn minh nông nghiệp - bước ngoặt thứ nhất trong sự phát triển
của xã hội loài người. Đợt sóng thứ hai là sự ra đời của công nghiệp hoá cùng với nó là nền văn minh công
nghiệp. Hiện nay, đợt sóng thứ ba đang xuất hiện cùng với nền văn minh
hậu công nghiệp. Ở đó, loài người đang chứng kiến sự hội nhập
rộng rãi và phát triển của công nghệ thông tin, với những thành tựu vĩ đại của
công nghệ sinh học (di truyền học), vật liệu mới..... Song đợt sóng thứ ba đang đồng thời là một thách
thức lớn đối với xã hội loài người.
1.1. Con người và văn hoá trong đợt sóng văn
minh thứ nhất
Trước khi Đợt sóng thứ nhất xuất hiện, con người sống thành nhóm nhỏ, sinh sống bằng săn bắt,
hái lượm, đánh cá và chăn nuôi. Khoảng 8.000 năm trước CN, làng mạc bắt đầu hình
thành và ở đó được tổ chức mọi hoạt động đời sống. Ruộng đất là cơ sở kinh tế
đã trở thành yếu tố nền tảng quy định cả lối sống văn hoá, cấu trúc gia đình và
thể chế chính trị. Lúc đó, gia đình được coi là đơn vị sản xuất chủ yếu bao gồm
nhiều thế hệ của lực lượng lao động với sự phân công lao động hết sức giản đơn.
Nền kinh tế phân quyền và mỗi đơn vị sản xuất tự tạo ra sản phẩm của mình theo
nhu cầu riêng. Khi một số đẳng cấp đã được xác định rõ thì họ lại sử dụng quyền
lực một cách cứng nhắc, độc đoán. Trên toàn cầu, mặc dù điểm xuất phát của
trình độ văn minh của mỗi khu vực, mỗi quốc gia đều không giống nhau, nhưng
những điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá về cơ bản đều được cắm rễ từ đất đai.
Mỗi nền văn minh đều có nguyên tắc và luật lệ
riêng, điều tiết mọi hoạt động đời sống của hàng tỷ người, ảnh hưởng lớn đối
với sự phát triển chung của xã hội toàn cầu. Sự thay đổi từ nền văn minh nông
nghiệp sang nền văn minh công nghiệp đã gây ảnh hưởng lớn đến nhiều mặt của đời
sống xã hội: từ chính trị, văn hoá, đến tinh thần, nhân cách của con người. Khi
phân tích ảnh hưởng của nền văn minh nông nghiệp đối với nền văn minh công
nghiệp, A.Toffler đã nhấn mạnh đến sự phân tách của sản xuất và tiêu dùng, sản
xuất và trao đổi, từ đó con người - lực lượng sản xuất và đồng thời cũng là chủ
thể tiêu dùng của xã hội cũng bị phân biệt thành con người sản xuất và con
người tiêu dùng.
Việc chia tách giữa sản xuất và tiêu dùng gây
ra sự xung đột lớn và sâu sắc giữa mục đích của người sản xuất (kể cả người lao
động và người quản lý) vì để có một chế độ lương bổng, lợi nhuận và phúc lợi
cao hơn, một bên, là nhu cầu ngược lại của người tiêu dùng, đó là sản phẩm chất
lượng tốt, giá thành hạ, mẫu mã đẹp, tiện lợi. Trong sự phận tách này, một mặt,
lực lượng sản xuất được chuyên môn hoá và phân định rõ mục đích tạo ra của cải
vật chất cho xã hội của từng thành phần kinh tế, khiến mọi thành viên xã hội
phụ thuộc chặt chẽ với nhau hơn. Nhưng mặt khác, nó đã tạo ra một cơ chế sản
xuất chạy theo lợi nhuận thặng dư, quan tâm đến số lượng nhiều hơn đến chất
lượng sản phẩm. Từ đó, cũng đồng thời xuất hiện một lớp người ham muốn vật chất
và thực dụng, dẫn tới nhiều mối quan hệ như: quan hệ cá nhân, gia đình, cộng
đồng, tình bạn, tình yêu v.v... đều bị thực dụng hoá, có chiều hướng xuống cấp
dưới ảnh hưởng của lợi ích cá nhân.
1.2. Con người và văn hoá trong đợt sóng văn
minh thứ hai
Ở rất nhiều quốc gia, sự xung đột quyền lực
của đợt sóng thứ nhất và đợt sóng thứ hai nổ ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng và
những biến động chính trị. Theo Al.Toffler, điều kiện tiên quyết của mọi nền
văn minh là năng lượng và nền văn minh thứ hai dùng năng lượng chủ yếu là than
đá và dầu khí để sản xuất, đây là những nguyên liệu không thể khôi phục được,
lại phải khai thác tập trung và có giới hạn. Trên cơ sở năng lượng đó, đợt sóng
thứ hai đã đẩy mạnh công nghệ lên một trình độ cao, tạo ra những máy điện cơ
khổng lồ, đặc biệt là sản xuất ra những máy công cụ tạo thành hoạt động dây
truyền, một loạt những ngành công nghiệp ra đời: công nghiệp than, dệt, đường sắt,
cơ khí ô tô, nhôm, công nghiệp hoá chất, thiết bị... Cạnh đó là các đô thị đồ
sộ xuất hiện. Các trung tâm công nghiệp sản xuất ra hàng loạt những sản phẩm
giống nhau, họ không hề nghĩ rằng, sản phẩm của họ sẽ mất giá trị nếu như không
quan tâm đến phương thức phân phối và việc nghiên cứu thị trường. Sự ra đời của
sản xuất hàng loạt đã làm thay đổi cả phương thức sản xuất và tiêu thụ. Công
nghệ của đợt sóng thứ hai đòi hỏi những tư bản lớn liên kết với nhau hình thành
cả những công ty trách nhiệm hữu hạn đồ sộ.
Nền văn minh công nghiệp đã tạo ra một lực
lượng sản xuất như những “những cỗ máy liên hoàn” được trang bị chuyên môn hoá
đến tàn bạo, dẫn đến việc con người phát triển thiếu toàn diện: một số cơ quan
chức năng như cơ bắp, ngón tay bấm nút v.v.. được phát triển mạnh, trong khi đó
những cơ quan khác lại trở nên thiếu nhạy cảm hơn.
Nền văn minh công nghiệp lấy nhà máy làm trung
tâm, mọi thiết chế xã hội, các sinh hoạt của con người phải lấy đó làm mô hình
chuẩn. Gia đình hạt nhân được cô đặc đến mức tối thiểu chỉ còn bố mẹ và con
cái, linh hoạt và dễ cơ động trong việc đáp ứng yêu cầu về nhân lực: “Khi
đợt sóng thứ hai bắt đầu tràn qua..... các gia đình đều cảm thấy cái stress của
sự thay đổi: Trong mỗi hộ, sự va chạm của các bước sóng xung đột, những đợt
tiến công vào quyền gia trưởng, đã biến đổi các quan hệ giữa con cái và bố mẹ,
các khái niệm mới về sở hưũ. Vì sản xuất kinh doanh chuyển từ ruộng đất sang
nhà máy, nên gia đình không cùng làm việc như mộtt đơn vị nữa...các chức năng
them chốt của gia đình bị chia nhỏ thành những thể chế mới, chuyên môn
hoá....Cơ cấu gia đình cũng bắt đầu thay đổi, bị các cuộc di cư vào thành phố
và cùng các cuộc bão táp kinh tế đánh đổ, các gia đình mất dần những họ hàng
không mong muốn, trở nên nhỏ hơn, cơ động hơn và thích hợp hơn với những nhu
cầu của bầu khí quyển công nghệ. Cái gọi là gia đình hạt nhân gồm bố mẹ, một
vài đứa con không gây phiền nhiễu trở thành mô hình hiện đại, tiêu chuẩn được
xã hội tán thành”[3].
Như vậy, sự thay đổi của kỹ thuật và công
nghệ, kéo theo cả hệ thống giáo dục và an sinh xã hội, khi mà cha mẹ cũng không
còn có thời gian chăm sóc con trẻ và đẩy trách nhiệm nhiều hơn cho nhà trường
theo kiểu đại chúng; gia đình và trường học như vậy đã biến các thế hệ thanh
niên thành lực lượng lao động tập thể theo kiểu nền công nghiệp điện cơ và dây
chuyền; người già trong gia đình cũng thiếu sự chăm sóc của con cái, họ chỉ còn
biết chấp nhận với những hoạt động của các nhà an dưỡng công ích.
Trong nền văn minh thứ hai này, A.Toffler đã
đề cập đến cái mà ông gọi là những mã số của nền văn minh công nghiệp tức là
“một loạt các qui tắc chỉ đạo toàn bộ hoạt động đời sống hình dung như một kiểu
“design lặp đi lặp lại”. Các qui tắc đó phát triển một cách tự nhiên và được
A.Toffler tổng hợp lại như sau:
- Tiêu chuẩn hoá được áp dụng không chỉ trong từng khâu sản xuất, từng phân xưởng,
mà trong toàn bộ dây truyền và công ty;
- Chuyên môn hoá trên cơ sở đồng bộ và toàn bộ, công nhân chỉ biết làm một việc như
một cái máy đơn điệu;
- Đồng bộ hoá được coi là sự phối hợp nhịp nhàng với nhau do sự tách rời ngày
càng rộng lớn giữa sản xuất và tiêu dùng bắt buộc con người trong nền văn minh
công nghiệp phải thay đổi cả cách xử lý thời gian và kinh phí. Con người phải
vận hành theo nhịp độ của máy móc, chặt chẽ, tinh vi và chính xác hơn;
- Sự tích tụ cũng là một mã số đáng quan tâm trước hết đó
là năng lượng, là sự tập trung dân cư từ nông thôn ra các đô thị khổng lồ;
- Cực đại hoá được tính đến khi nền kinh tế tách biệt giữa sản xuất với tiêu
dùng tạo ra trong xã hội tâm lý thích quy mô đồ sộ. Ở tất cả các nước có nền
văn minh công nghiệp này, người ta thường khoe những toà nhà chọc trời, những
đường phố phố to rộng và đông dân, những nhà máy khổng lồ.v.v.. và tự hào với
những thành quả đó;
- Tập trung hoá công nghiệp hoá thúc đẩy sự tập
trung cao độ trong nền kinh tế đòi hỏi chế độ chính trị cũng phải chặt chẽ hơn,
đẩy mạnh quyền lực cũng như độc quyền về tiếng nói quyết định, đặc biệt ở cấp
trung ương.
Nói tóm lại, với cuộc cách mạng công nghiệp,
đợt sóng thứ hai đã thiết kế xã hội theo mô hình nhà máy, sản xuất hàng loạt,
sản xuất để tiêu thụ. Giáo dục, thông tin đều theo hướng đại chúng hoá; con
người trong xã hội trở nên quy lát, tôn trọng kỷ luật lao động hơn.. Đợt sóng
thứ hai đã thị trường hoá thế giới, không một quốc gia hoặc nền văn minh nào có
thể khép kín số phận của mình khi thị trường truyền bá niềm tin với động cơ
kinh tế là những động lực chính của cuộc sống con người. Nó nuôi dưỡng quan
điểm cuộc sống là các hợp đồng: “Hợp đồng sinh - dưỡng”, “Hợp đồng hôn nhân”,
“Hợp đồng giáo dục”, “Hợp đồng xã hội”.v.v..
1.3. Đợt sóng văn minh thứ ba
Theo A.Toffler, thế giới hiện nay ngày càng
thể hiện rõ hơn sự hiện diện của một làn sóng mới được gọi là đợt sóng thứ ba. Song sự thay thế này cũng sẽ lại trải qua những đấu tranh quyết
liệt, thậm chí còn gay gắt hơn khi làn sóng văn minh thứ hai thay thế cho làn
sóng văn minh thứ nhất.
Nền văn minh của đợt sóng thứ hai đã đưa nhân loại tiến đến một bước phát triển cao nhưng mặt khác
cũng đang tạo ra những khủng hoảng mới mang tính toàn cầu: môi trường sinh thái
bị đe doạ, ô nhiễm đại dương và không khí, tầng ozon bị phá thủng, nguồn năng
lượng lấy từ lòng đất ngày càng cạn kiệt, bệnh AIDS đã trở thành hiểm họa của
loài người v.v... Về chính trị: phong trào đòi ly khai, chiến tranh tôn giáo
sắc tộc ngày càng sâu sắc. Khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn. Tâm lý con
người bị ức chế, gia đình tan vỡ, tệ nạn xã hội tràn lan, tỷ lệ người không tìm
thấy lẽ sống gia tăng v.v....
Tất cả các hiện tượng xã hội nêu trên thoạt
nhìn có vẻ phức tạp, nhưng theo A.Toffler, tất cả đều có chung một nguồn gốc
khi nền văn minh công nghiệp đã đi vào giai đoạn bế tắc. Khi nền sản xuất dựa
trên cơ sở điện cơ khí không còn phù hợp, nó đòi hỏi một sự chuyển giao công
nghệ mới của nền văn minh hậu công nghiệp và kéo theo đó là hàng loạt những
thay đổi khác: “Đợt sóng thứ ba mang cùng với nó một lối sống mới thực sự
dựa vào các nguồn năng lượng đa dạng đổi mới được vào những phương pháp sản
xuất sẽ làm cho hầu hết các đường lối tập hợp xí nghiệp trở nên lỗi thời: vào
những gia đình mới phi hạt nhân; vào một thể chế mới có thể nói là ngôi nhà
điện tử” và vào những trường học và những công ty của tương lai đã thay đổi
triệt để. Nền văn minh viết một bộ luật mới về hành vi chúng ta và đưa chúng ta
vượt qua sự tiêu chuẩn hoá, sự đồng bộ hoá và sự tập trung hoá, vượt qua sự tập
trung năng lượng tiền tệ và quyền lực[4].
A.Toffler đã phân tích các đặc trưng của nền
văn minh hậu công nghiệp bắt đầu trên các mặt công nghệ xã hội và tâm lý cá
nhân. Xuất phát từ việc nền công nghiệp mới dựa trên cơ sở nguồn năng lượng có
thể tái sinh, sẽ vừa hạn chế được nguồn năng lượng và vừa hạn chế được mức độ ô
nhiễm môi trường. Điện tử và máy tính ngày càng đem lại những biến đổi lớn về
diện mạo của nền kinh tế với những ngành sản xuất hiện đại: Công nghiệp nghiên
cứu và khai thác đại dương triển vọng, công nghệ gen với những thành quả của di
truyền học đã cho phép loài người bước vào ngưỡng cửa của lĩnh vực chế tạo ra
“vật liệu sống”. Từ lĩnh vực y học - phòng, chữa bệnh hay cải thiện giống nòi,
cho đến lĩnh vực sản xuất lương thực, hay các hợp chất nâng cao chất lượng cuộc
sống, công nghệ di truyền cũng đã đem lại những kết quả đặc sắc.
Trong đợt sóng thứ ba một vấn đề nổi trội là phi đại chúng hoá. Với nền văn minh công
nghiệp của đợt sóng thứ hai, mục tiêu phấn đấu là sản xuất hàng loạt để bán,
còn trong làn sóng thứ ba sản xuất thay đổi theo hướng “nhỏ trong lớn” để đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ từng người, từng nhóm người với mục tiêu cụ thể trong xã
hội. Việc sản xuất và tiêu thụ dần dần khắc phục được hiện tượng phân tách, sản
xuất linh hoạt và năng động hơn khi vừa để dùng vừa để bán. Việc sản xuất trước
đây chỉ trong nhà máy, nay có thể chuyển về từng gia đình trong “ngôi nhà điện
tử” của mình, bởi nó không yêu cầu 100% lực lượng sản xuất phải có mặt tại công
xưởng, mà ở một số nước phát triển như Mỹ, Nhật, nhiều cơ sở sản xuất lớn đã
cho phép từ 35-50% nhân công làm việc tại “ngôi nhà điện tử” của mình. Khi đó
toàn bộ hoạt động của cuộc sống, từ cấu trúc của gia đình, quy trình nuôi dưỡng
giáo dục trẻ, sự hình thành cá tính của trẻ em, mạng lưới xã hội, cộng đồng....
tới toàn bộ hệ thống sở hữu - quyền lực cũng sẽ thay đổi theo.
Nhiều khái niệm trước đây đã được làn sóng thứ
hai công nhận và thực hiện, nay lại cần tiếp tục xem xét. Ví dụ như, thời gian,
không gian dường như giờ đây đã mất đi tính tuyệt đối mà chỉ còn là tương đối;
hiệu suất, hiệu quả cũng được nhìn nhận lại: tới nay các nhà kinh tế học chỉ so
sánh sự khác nhau trong việc sản xuất cùng một sản phẩm hoặc dịch vụ, họ ít khi
so sánh hiệu suất nó trong khu vực B (sản xuất để bán) đối với hiệu suất tiêu
sản nó trong khu vực A (sản xuất để tự tiêu). Ngay những khái niệm như “thu
nhập”, “phúc lợi”, “nghèo khổ” hoặc “thất nghiệp” cũng phải xem xét cho phù hợp
khi cuộc sống xã hội thay đổi theo đợt sóng thứ ba.
Khi nói về cuộc “siêu đấu tranh” cho một nền
văn minh mới trong tương lai, Alvin Toffler đã nêu rõ: “Một nền văn minh mới đang xuất
hiện trong cuộc sống chúng ta... Nền văn minh mới ấy mang đến cũng với nó những
phong cách gia đình mới; những cách làm việc, yêu đương và sống biến đổi; một
nền kinh tế mới; và vượt lên trên tất cả những điều này, nó còn mang đến một ý
thức đã thay đổi. Hôm nay, những mảng của nền văn minh mới ấy vẫn đang tồn tại.
Có hàng triệu người đã chuyển cuộc sống của họ theo nhịp điệu của ngày mai. Còn
những người khác, khiếp sợ đang tháo chạy tuyệt vọng và đang cố khôi phục lại
cái thế giới đã sinh ra họ đang chết dần [5]”.
Đợt sóng văn minh thứ ba với nền kinh tế tri thức cũng
kéo theo những biến động không nhỏ đối với cuộc sống con người và tạo nên một
kiểu văn hoá tổ chức và hoạt động xã hội hoàn toàn khác, không giống như các
“design được lặp đi lặp lại” truớc đây. Biểu hiện rõ nét nhất là ảnh hưởng của
"ngôi nhà điện tử" đến hoạt động cộng đồng, tâm lý cá thể, phương
thức quản lý lao động, đến môi trường và nhiều vấn đề kinh tế khác, qua một số
dẫn chứng sau đây:
- Trước hết là ảnh hưởng đến hoạt động cộng đồng: Ở một số nước phát triển như ở Mỹ, Anh và Nhật, nhiều tư bản
trong lĩnh vực công nghệ cao đã bước đầu triển khai phương thức sản xuất cho
người lao động làm việc tại các "ngôi nhà điện tử", trong các
"cabinet" của mình tại nhà. Với cách làm việc như vậy, trước hết,
người lao động sẽ giảm được những di chuyển cơ học bắt buộc, tránh được stress
do ồn ào, khoảng cách và ảnh hưởng của ô nhiễm. Những mặt khác, những cơn lốc
tinh thần đang nổi lên dữ dội ở nhiều quốc gia phát triển. Một Chủ tịch Ủy ban
sức khoẻ tâm thần tại Washington thông báo rằng: khoảng 1/4 tổng số công dân nước Mỹ mắc những hình thức của những
stress trầm trọng về xúc cảm và hầu như không có gia đình nào ở nước Mỹ lại
không có người mắc một hiện tượng hỗn loạn nào đó về tâm thần[6], thì đó có thể là một giải pháp tốt để giảm thiểu hiện tượng này.
Tuy nhiên, do hoạt động cá nhân tăng cường thì những hoạt động cộng đồng lại
giảm sút, quan hệ cộng đồng vì thế cũng trở nên thiếu chặt chẽ hơn. Trong khi, yêu cầu của một nền văn minh đang tới là cần phải tạo ra một đời
sống cảm xúc hoàn hảo và một bầu khí quyển tâm lý lành mạnh, thoả mãn được cả 3
nhu cầu của cá nhân về: cộng đồng, cấu trúc và ý nghĩa[7], thì những chính những ảnh
hưởng của mô hình sản xuất trên đã tạo ra những mâu thuẫn mới trong xã hội cũng
như trong bản thân mỗi con người.
- Về tâm lý cá nhân: khi làm việc tại nhà với các hoạt động trí óc, người lao động một
mặt, có điều kiện chủ động sắp xếp công việc, tiết kiệm thời gian, độc lập
trong tư duy sáng tạo, nhờ đó tăng cường được vai trò và trách nhiệm cá nhân.
Mặt khác, khi con người đã quen với một nếp làm việc chủ động và ít có sự phối
hợp giữa các đồng nghiệp thì tính kỷ luật lao động cũng đồng thời giảm sút,
khác hẳn so với phương thức làm việc của những hoạt động sản xuất dây chuyền
trước đây. Và một điều trở nên khủng khiếp hơn là khi con người dừng làm việc,
họ sẽ cảm thấy trống trải và rất cô đơn.
- Từ đặc thù công việc dẫn tới phương thức quản lý nhân sự
và tổ chức lao động cũng trở nên linh hoạt hơn.
Người quản lý sẽ không đánh giá hiệu quả lao động bằng số giờ làm việc mà đánh
giá bằng số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra. Ngay cả nhà quản lý cũng có
thể vẫn tổ chức và điều khiển công việc mọi nơi mọi lúc, không cần tới một sự
giám sát chặt chẽ. Tuy nhiên, phương thức hoạt động này chỉ có được hiệu quả
cao khi người lao động đạt được một trình độ tự giác cao, có một cấu trúc gia
đình và chế độ sinh hoạt đặc thù. Khảo sát một số doanh nghiệp phần mềm Hàn
Quốc cho thấy, mặc dù người Hàn Quốc về bản chất là dân tộc có kỷ luật lao động
cao, song mặt khác chủ doanh nghiệp vẫn tâm đắc với việc tổ chức hoạt động sản
xuất tập trung với mục đích thường trực đáp ứng các nhu cầu cung cấp sản phẩm,
với các yêu cầu điều chỉnh thiết kế cũng như đảm bảo bí mật công nghệ.
- Về môi trường: khi những di chuyển bắt buộc
của người lao động giảm thiểu, trước hết là hệ thống giao thông cũng bớt căng
thẳng và do đó môi trường được cải thiện. Hệ thống ngôi nhà điện tử ít nhiều sẽ
phân tán nhu cầu năng lượng tập trung, do đó con người sẽ tận dụng được nhiều
hơn năng lượng tự nhiên, như mặt trời, gió và các năng lượng khác v.v.. hạn chế
việc dùng nhiên liệu gây ô nhiễm lớn cho môi trường.
- Về kinh tế: khi cuộc sống lao động quá bận
rộn, con người cũng không thấy nhu cầu di chuyển hay phương tiện đi lại sẽ
không phải là vấn đề cần cấp thiết đặt ra. Lao động trí óc không đòi hỏi nguồn
năng lượng như sản xuất công nghiệp mà chủ yếu chỉ là điện năng với một công
suất không lớn. Trong bối cảnh đó, nhu cầu sản phẩm của một số ngành công
nghiệp nặng như khai thác dầu mỏ, sản xuất ô tô có thể giảm hơn, nhưng ngược
lại các ngành công nghệ cao như điện tử, viễn thông lại phát triển mạnh, trở
thành xương sống của nền kinh tế. Trong một xã hội với phương thức sản xuất như
vậy, người lao động khi đã có các thiết bị điện tử có nghĩa là họ đã sở hữu các
phương tiện sản xuất, dẫn tới việc quan hệ sản xuất mới ra đời.
Khi cuộc sống của con người được xây dựng trên
cơ sở của nền kinh tế phi đại chúng, họ có ý thức ngày càng cao về thời gian,
hình thức và hiệu quả công việc, tạo nên những giá trị vật chất và tinh thần
mới trong cuộc sống. Khi ngay cả bản thân gia đình với tư cách là tế bào xã hội
cũng có nguy cơ tan vỡ, thì những ràng buộc hôn nhân cũng chỉ được coi như kết
bạn đồng hành, với sự chia sẻ thầm kín về tâm sinh lý và cùng hỗ trợ nhau trong
cuộc sống. Trong bối cảnh đó, đạo đức thị trường trở nên chiếm ưu thế dưới ảnh
hưởng của chủ nghĩa cá nhân, nó trở thành tiêu chí phân loại các nhóm người
khác nhau trong cộng đồng theo mức độ sở hữu những của cải, vật chất mà họ sở
hữu. Ngoài ra, đạo đức tiêu dùng lúc đó sẽ nhìn nhận và đánh giá con người theo
những gì họ có hay họ làm ra được.
Khi mọi tầng lớp xã hội tiếp cận với cả vấn đề
sản xuất và tiêu dùng đòi hỏi thông tin quảng cáo phải phát triển đến mức đại
chúng hoá. Nhờ những phát minh khoa học cùng với những cơ sở sản xuất tạo ra
các phương tiên thông tin hiện đại, được cộng hưởng bởi nhu cầu xã hội ngày
càng vươn tới cái tốt, cái đẹp, cái rẻ. Tuy nhiên, trong thông tin qua truyền
hình và sách báo, thì chỉ có ngôn ngữ của một số quốc gia có nền kinh tế phát
triển như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức... sẽ trở nên chiếm ưu thế hơn,
trong khi đó nhiều ngôn ngữ mẹ đẻ của các dân tộc chậm phát triển hơn lại bị
rơi vào tình trạng suy thoái, thậm chí có nguy cơ diệt vong.
Nhịp sống thay đổi sẽ ảnh hưởng tới đời sống
văn hoá và nghệ thuật. Nền văn hoá tự nó đang bị phi tiêu chuẩn hoá. Con người
ngày nay giàu có và được giáo dục hơn cha mẹ của họ, họ đối diện với nhiều khả
năng chọn lựa trong cuộc sống hơn nên đơn giản họ từ chối mọi hình thức đại
chúng hoá. Nhịp sống mới và cá nhân hoá trong công việc, trong tiêu dùng có thể
thực hiện được nhờ những công nghệ điện tử hiện đại. Một số ví dụ rõ nét là:
máy vi tính và điện thoại di động giúp các tổ chức và cá nhân thực hiện công
việc với thời gian linh hoạt, đầu video cho phép khán giả ghi lại bất kỳ chương
trình truyền hình nào và xem lại bất kỳ lúc nào họ muốn v.v...
Khi thay đổi cấu trúc của xã hội, gia đình con
người cũng cần vận động để thích nghi. Đợt sóng thứ ba không tạo ra một thế hệ con người mới, mà là một lớp người với
những tính cách xã hội mới, trong đó có nhiều mẫu người được đa dạng hoá với
những tiềm năng phát triển riêng, đặc trưng đối với các nhóm nghề nghiệp và nhu
cầu xã hội. Những tính cách của con người trong Đợt sóng thứ ba được hình thành từ sự thôi thúc
nội tâm cá nhân dưới ảnh hưởng của nhiều trào lưu xã hội. Họ phải là những
người tràn đầy nhiệt huyết và trách nhiệm, với những mục tiêu cuộc sống thiết
thực hơn, nhưng cũng là những con người dám đối mặt với rủi ro và biết chấp
nhận nó; họ có khả năng xử lý hiệu quả những nhiệm vụ lớn trong sự tổ chức phối
hợp nhóm làm việc; họ linh hoạt thích nghi với các tình huống thay đổi và hoà
nhập dễ dàng.
Nói như vậy, không phải A.Toffler không thấy
hoài nghi rằng: Liệu sự thay đổi của công nghệ và các
cuộc nổi dậy của xã hội có phải là sự kết thúc của tình bạn, tình yêu, sự cam
kết, tinh thần cộng đồng và sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau hay không?[8] Trước những thách thức của một nền văn minh
mới đang tới gần, A.Toffler đã đề xuất những giải pháp nhằm xây dựng một bầu
khí quyển tâm lý lành mạnh với những tính cách xã hội và giá trị cộng đồng mới,
đó là: dũng cảm tấn công và nỗ lực
giảm thiểu sự cô đơn trong xã hội hiện đại, tăng cường giao tiếp cộng đồng từ
xa bằng nhiều hình thức truyền thông, điểu chỉnh sinh kế cho phù hợp với điều
kiện mới, tái thiết lại cấu trúc phù hợp của cuộc sống, lành mạnh hoá các hoạt
động văn hoá, tín ngưỡng v.v... với mục tiêu xây dựng một môi trường văn hoá
hoà bình và cùng đồng thời phát triển.
Bằng cách tiếp cận của mình, A.Toffler đã tìm
cách cắt nghĩa riêng về bản chất của các giai đoạn phát triển và sự vận động
của cuộc sống con người theo quy luật tồn tại của nó. Qua phân tích các mặt
sóng xã hội ông đã chỉ ra những tiềm năng hấp dẫn của Đợt sóng thứ ba, chia sẻ
cả những băn khoăn và việc tự lý giải:... Đột nhiên chúng ta phát hiện ra
rằng bản thân những điều kiện, dù có gây nên những nguy hiểm lớn nhất ngày nay,
cũng đồng thời mở ra những tiềm lực mới hấp dẫn. Đợt sóng thứ ba sẽ chỉ cho
chúng ta những tiềm lực mới đó[9].
Xét về mặt thế giới quan triết học, quan điểm
của tác giả có nhiều điểm khác với chúng ta, cần thiết được tranh luận và làm
rõ. Song người bình luận thiết nghĩ, chúng ta có thể cùng A.Toffler hy vọng về
những triển vọng của một nền văn minh mới, khi Đợt sóng thứ ba đã thực sự chín muồi, được sáng tạo bởi trí tuệ của những con
người lao động thực thụ - xứng đáng được gọi là nền văn minh tri thức hay nền
văn minh con người.
[1] Nhà xã hội học
và tưong lai học của Mỹ, giáo sư Trường Đại học Cornell, nhà khoa học nổi tiếng
của tổ chức mang tên Russell. Ông đã đạt 5 bằng tiến sĩ về các ngành khoa học
Xã hội nhân văn như: triết học, văn học và luật học, xã hội học v.v...
[2] Cuốn sách nổi
tiếng của Alvin Toffler được Nguyễn Lộc và Phan Ngọc dịch từ nguyên bản tiếng
Anh và đã được Nhà xuất bản Khoa học xã hội in và phát hành, năm 1996. Cuốn
sách này cũng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Pháp, Đức Nhật, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Trung Quốc, Việt Nam v.v... và được đón đọc ở gần 50 quốc gia trên thế
giới.
TSKH. Trịnh Thị Kim Ngọc
Viện Nghiên cứu Con người – Viện Khoa học xã hội Việt Nam
Nguồn: tác giả

