Văn minh và văn hoá là hai khái niệm thuộc phạm trù xã hội, nói lên mặt
thành tựu trong quá trình phát minh và sáng tạo của loài người. Chúng có mối
quan hệ biện chứng với nhau theo từng bước thăng trầm của lịch sử nhân loại.
Hai khái niệm này, thực chất là có sự khác biệt về mặt nội dung lẫn hình thức
biểu thị. Song, trong thực tế chúng vẫn được dùng lẫn lộn ngay trong các nhà
khoa học.
Văn minh và văn hoá là hai khái niệm thuộc
phạm trù xã hội, nói lên mặt thành tựu trong quá trình phát minh và sáng tạo
của loài người. Chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau theo từng bước thăng
trầm của lịch sử nhân loại. Hai khái niệm này, thực chất là có sự khác biệt về
mặt nội dung lẫn hình thức biểu thị. Song, trong thực tế chúng vẫn được dùng
lẫn lộn ngay trong các nhà khoa học. Có lúc, họ coi hai lĩnh vực này là một và
cho rằng, vănhóa là cái có trước còn văn minh là cái có sau, là trình độ cao và
là sự tiến hóa của văn hoá. Đôi khi, người ta lại chỉ dùng một cụm từ duy nhất
để diễn đạt về chúng, như “văn minh vật chất và văn minh tinh thần” (Trung
Quốc) hay “văn hoá vật chất và văn hóa tinh thần” (Việt Nam và các nước khác),
mà không có sự phân biệt rõ ràng về hai lĩnh vực này, do đó, đã tạo nên sự bất
đồng trong khoa học và dẫn đến sự tranh cãi gay gắt ngay trong giới học thuật
phương Tây cũng như phương Đông. Mặc dù,về phương diện “ngôn ngữ học” thì văn
hoá (Culture) và văn minh (Civilization) không phải là những từ đồng nghĩa, mà
là các thuật ngữ riêng biệt mang ý nghĩa khác nhau. Điều đó, dễ dẫn đến sự nhầm
lẫn trong nhận thức cũng như trong thực tiễn khi muốn tìm hiểu và giải thích về
sự tồn tại và phát triển của các cộng đồng xã hội trước đây, cũng như trong
thời kỳ toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Khái niệm văn hoá được sử dụng rất phổ biến nhưng để hiểu được
đầy đủ về nó thì lại rất khó khăn, là do có nhiều cách tiếp cận khoa học để
định nghĩa về khái niệm này. Từ văn hoá theo thuật ngữ khoa học được bắt nguồn từ châu Âu là chữ culture của Pháp, culture của Anh và kultur của Đức. Chúng có nguồn gốc từ chữ Latin“cultus” với nghĩa gốc là “trồng trọt”, được dùng theo hai nghĩa cultus
agri là “trồng trọt
ngoài đồng” và cultus animi là “trồng trọt tinh thần” tương ứng với "quá trình giáodục”, bồi dưỡng tâm hồn con người. Như vậy, xét theo
nghĩa gốc, văn hóa gắn liền với giáo dục, với quá trình hình thành nhân cách của con người.
Văn hoá là một khái
niệm mới do người Nhật dịch từ chữ "culture" của phương Tây và được sử dụng tại Trung Quốc.
Ở Việt Nam, từ văn hoá được các nhà nho Duy Tân du nhập vào từ đầu thế kỷ này, cách
hiểu khái niệm văn hoákhông những là đã theo cách hiểu của phương Tây mà cũng từng bước thay đổi tương ứng với sự
phát triển của nền khoa học châu Âu hiện đại. Tuy nhiên, trước đó hàng chục thế
kỷ cũng đã có một quan niệm mang yếu tố truyền thống tương đồng với cái ngày nay phương Tây gọi là "văn
hoá”.
Trong cách hiểu truyền
thống, thường thấy có những quan hệ thật khăng khít giữa những từ ngày nay gọi
là văn minh, văn hoá hay văn vật, văn hiến với những nghĩa khác nhau. Tất cả đều có nguồn
gốc từ chữ “văn”. Dưới đây, từng bước chúng tôi sẽ phân tích để tìm hiểu về các
khái niệm này.
Chữ “văn” trong ngôn ngữ Hán cổ là “hình dáng, vẽ đẹp” do đường nét và màu sắc tạo ra, từ đó nó có
nghĩa là hình thức tốt đẹp, là cái được biểu hiện ra bên ngoài. Ví dụ như: mặt trời, mặt trăng, sao trời, sấm,
chớp, mây, mưa, giông, bão,....
là văn của trời; hình dáng, màu sắc,móng vuốt, vằn vện, sừng, lông,cánh,…là văn của muông thú. Còn các thứ như:điển chương, phong
tục, tập quán, nếp sống, lối sống, lễ nghi tôn giáo, phương thức giao tiếp, ứng
xử, văn học nghệ thuật v.v…là
văn của người. Đó là những cái được biểu hiện ra trong mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Như vậy,“ văn” là cái biểu hiện ra bên ngoài thuộc về hình thức, đối lập với nội dung ở bên trong, đó là "thực", là "chất ". Hai mặt này, đều có trong mọi sự vật hiện
tượng của đời sống. Khổng Tử nói: "Chất mà vượt quá hơn văn thì biến thành thô kệch, văn mà vượt
quá hơn chất thì trở nên loè loẹt. Văn và chất hài hoà với nhau mới là quân
tử ". Văn là hình
thức bên ngoài, không phải là cái thô sơ tự nhiên bên trong, nên có thể sửa
đổi, trao dồi, khiến cho cái thô sơ tự nhiên trở thành văn vẻ, đó là tác dụng của “sự giáo
hoá”.
Trong Kinh Dịch, lời soán ở quẻ Bí viết: "Bí hanh, nhu lai nhi văn chương, cố hanh, phân
cương thượng nhi văn nhu; cố tiểu lợi hữu du vãng, thiên văn dã. Văn minh dỉ
chỉ, nhân văn dã. Quan hồ thiên văn, dĩ sát thời biến, quan hồ nhân văn, dĩ hoá
thành thiên hạ ". ( 1 )
Văn, theo cách hiểu ở
trên đây là:“Cái đẹp của cương và nhu giao nhau đó là văn của trời. Có văn
sáng suốt, biết dừng lại không thái quá đó là văn của người. Xem xét văn tự
nhiên của trời để hiểu được sự biến đổi của thời tiết. Xem xét văn của người để
có thể giáo hoá khiến cho thiên hạ tốt đẹp”( văn trị giáo hóa )
Tóm lại, văn là cái ở
bên ngoài, không phải là cái tự nhiên bên trong, nên có thể sửa đổi khiến cho
cái thô ráp cũng trở nên tốt đẹp (giáo hóa). Đồng thời, qua lăng kính của Dịch
học thì văn hóa cũng được hiểu theo nghĩa “văn trị giáo hóa”. Như vậy, nếu hiểu văn hoá theo nghĩa “giáo dục” là có sự tương đồng với khái niệm vănhoádịch từ chữ "culture" với ý nghĩa: "trình độ phát triển, lịch sử
của xã hội và con người biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống
và hành động của con người, cũng như trong các giá trị vật chất và tinh thần,
của những xã hội, dân tộc, bộ tộc cụ thể. Theo nghĩa hẹp“ văn hoá” chỉ liên
quan tới “ đời sống tinh thần” của con người" (Bách khoa toàn thư Liên Xô. Mục Kul'tura )
(2, tr 9)
Theo cách hiểu phổ
biến hiện nay, thì văn hoá với nghĩa rộng nhất (quan điểm Triết học) bao gồm toàn bộ “ văn hoá
vật chất” và “văn hoá
tinh thần” do con người làm ra. Chúng luôn đối lập và có mối quan hệ biện
chứng với nhau trong mọi
biểu hiện của đời sống xã hội. Như vậy, văn hóa là những thành quả tốt đẹp đạt
được trong quá trình lao động và sáng tạo của con người, trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại.
Nhận định này, cũng
phù hợp với quan điểm của Karl Marx, khi ông đưa ra một định nghĩa về con người như sau: “Con nguời
là một động vật cấp cao có tư duy và làm ra công cụ lao động” (công cụ sản xuất vật chất) Và, một quan điểm
khác cúa học thuyết Marx về con người là: “Con người sở dĩ trở thành người là
nhờ có lao động và làm ra ngôn ngữ” (công cụ sản xuất tinh thần). Lao động và ngôn ngữ, đó chính là “ nguồn gốc
xã hội” quyết định sự hình
thành và phát triển của ý thức và sự sáng tạo của con người. Theo quan điểm Mác xít thì “ngôn ngữ
là ý thức của hiện thực ” ( Marx ).
Như vậy, ngôn ngữ(công cụ của tư duy) được cấu thành thông qua lao động (công cụ lao động). Và, Engels cũng đã khẳng định rằng: “Trước hết là
nhờ lao động, rồi sau lao động và đồng thời với nó là ngôn ngữ, đấy là hai kích
thích chủ yếu, do đó mà bộ ócvượn biến thành óc người”( 3 ) Đó là quan hệ biện chứng giữa lao động và ngôn ngữ.
Theo nhận định cùa Engels, bộ não phát triển trước hết nhờ lao động và “sau lao động và đồng thời với lao
động là ngôn ngữ”. Cho nên, qua cách nhấn mạnh của Engels thì ngôn ngữ không chỉ là tiền đề tạo ra đối tượng văn hoá sau này, mà hơn thế, trước hết nó là tiền đề
tạo ra con người. Và, đến lượt mình con người đã hình thành cho mình đối tượng là văn hoá . Nhờ có loại hình “ngôn ngữ - ký hiệu” nguyên thủymà tư duy con người ngày càng phát
triển cao hơn, để từ đó, con người sáng tạo ra nhiều loại hình “ ngôn ngữ
- văn hoá” khác
nhau như: hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc, âm nhạc, múa, văn chương, rối, xiếc,
sân khấu, điện ảnh, lễ hội. v.v…Chúng không chỉ biểu hiệntrong các lĩnh vực tôn giáo,
nghệ thuật mà còn cả trong nếp sống, lối
sốngxã hội. Đó là quan hệ biện
chứng giữa ngôn ngữ và văn hoá.
Từ định nghĩa về con người, cùng những nhận định về thành quảlao động và sáng tạo của con người trong lịch sử ( Marx vàEngels.). Chúng tôi có
thể đưa ra một định nghĩa chung nhất về con người như sau:
Con người là một động vật cấp cao có “trí khôn” và làm ra hai
loại công cụ sản xuất. Đó là “công cụ sản xuất vật chất” và “công cụ sản xuất
tinh thần” nhằm thoả mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của chính mình
và đồng loại trong suốt chiểu dài lịch sử nhân loại.( N.V.H )
Với định nghĩa được
xây dựng mang tính chất “thao tác” trên đây, có thể hiểu văn hóa(theo Triết học) là tất cả mọi thứ
do con người sáng tạora nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của họ.Vì thế, những gì con người sáng tạọ ra
bằng công
cụ sản xuất vật chất (công nghệ - máy móc) thì thuộc về“văn hoá vật chất”, còn lại những gì con người sáng tạo ra bằng công cụ
sản xuất tinh thần (ngôn ngữ - ký hiệu) thì thuộc về “văn hoá tinh thần”. Qua nhậnđịnh này, chúng tôi có thể đưa ra đượckhung phân loại của hai khái niệm văn minh và văn hóa dưới đây.
Theo quan điểm của Xã hội học
văn hoá thì “văn hoá
vật chất” chínhlà “văn hóa kỹ
thuật” (Technical Culture)
bao gồm các hệ thống lý thuyết về “khoa học - kỹ thuật” cơ bản, đó là các nguyên lý khoa học, là những
thực nghiệm khoa học của loài người trên bước đường khám phá và chinh phục – tự
nhiên. Chúng làm nền tảng cho việc phát minh và sáng chế ra các “công nghệ
- máy móc” (công cụ sản xuất vật
chất). Từ đó, trải qua các phương thức sản xuất khác nhau trong lịch sử, con người đã sản xuất ra các sản phẩm
vật chất mang tính thực
dụng (pragmatisme)nhằm thoả
mãn nhu
cầu vật chất của
con người, như:điện, đường, trường, trạm, nhà cửa, quần áo, giày dép, ti vi,
phân đạm, thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh, vòng tránh thai, bao “cao su”. v.v… kể cả các loại công cụ lao động như: máy cày, máy
bừa, máy gặt, máy ủi. v.v… và các loạivũ khí chiến tranh như: bom, mìn, súng,
đạn, chất độc hóa học, vũ khí hạt nhân, bom nguyên tử. v.v.. Chúng bao gồm tất cả các đồ dùng sinh hoạt và chiến đấu giúp cho con người tồn tại và lưu truyền huyết
thống. Văn hóa vật chất còn bao gồm những “kỹ thuật sinh sống” (biện pháp sinh hoạt và kiếm sống) và trình độ“tổ chức xã hội” (xây dựng thiết chế xã hội hiện đại) giúp cho
đời sống xã hội luônphát triển bền vững. Mặt biểu hiện này được gọi là Văn minh (Civilization ).
Nói tóm lại, Văn minh được hình thành trên mối quan hệ giữa con người vớithế giới tự nhiên (tư liệu sản xuất) dựa trên cơ sở phát triển
của một “lực lượng sản xuất” (Con người - Công cụ sản xuất vật chất - Tự
nhiên ) nhất định. Đó là trình độ của con người trong việc nhận thức và khám
phá ra các “quy luật của tự nhiên” để có thể phát minh và sáng chế ra các “công cụ
sản xuất vật chất” (công nghệ - máy móc) nhằm chiếm lĩnh và cải tạo tự nhiên giúp
con người thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất. Đồng thời hình thành nên một xã hội công
dân với toàn bộ “thiết chế”xã hội hiện đại, để có thể bảo đảm được quyền sống cúa mọi người trong toàn xã hội (N.V.H)
Theo “Từ điển
bách khoa Văn hóa học” do GS. A. A. Radugin chủ biên, văn minh được hiểu như sau: “Hệ thống những phương tiện do con người tạo
nên nhằm đảm bảo tính tự chủ thực tiễn và tính chủ động thực tế trong việc tạo
đầy đủ tiện nghi cho cuộc sống. Văn minh có hai mặt: khoa học - kỹ thuật và xã
hội - pháp chế. Tiêu chí phát triển của văn minh là trình độ chế ngự của con
người đối với các sức mạnh thiên nhiên và sự phát triển lĩnh vực xã hội - pháp
chế ( kể cả nhà nước pháp quyền), bảo đảm việc thực hiện quyền sống và tự do
của con người”. ( 4, tr.613 )
Vì thế, không nên cho
rằng, thời cổ xưa loài người chưa có nền văn minh, điều đó là không thuyết
phục. Bởi vì, văn minh chính là trình độ chế ngự tự nhiên cùng vớitrình độ tổ chức xã hội của con người. Mà các trình độ nói trên thì thời kỳ nào
cũng có, chỉ có sự khác biệt về cấp độ cao hay thấp trong từng thời kỳ và ở các
vùng văn hóa khác nhau. Do vậy, mới có nền văn minh Ai Cập cổ đại, nền văn
minh Maya cổ đại, nền văn minh Hy - La cổ đại, nền văn minh Ấn Độ cổ đại, nền
văn minhTrung Hoa cổ đạiv.v…hoặc nền văn minh Đông Sơn, nền văn minh Hòa Bình,
nền văn minh Sa Huỳnh , nền văn minh Óc Eo. v.v, chúng đã tồn tại cách đây hàng nghìn năm lịch sử.
Có thể khẳng định rằng, có nhiều nền văn minh khác nhau đã xuất hiện từ thuở bình minh hình thành nhân
loại cho đến nay như: nền văn minh nông nghiệp, nền văn minh kim khí, nền văn
minh công nghiệp, nền văn minh tin học. v.v..Đặc biệt, là sự ra đời của nền văn minh nông nghiệp đã có từ
thời kỳ công xã thị tộc mẫu hệ - cực thịnh cách đây từ 8000 - 2000 năm trước
CN (thời kỳ đồ đámới) thuộc thời đại
công xã nguyên thuỷ (trước khi hình thành
nhà nước). Văn minh luôn “biến động" trong đời sống xã hội, vì các thành tựu của khoa học -
kỹ thuật luôn có sự phát triển,
và được truyền bá, thâm nhập, phổ biến từ cộng đồng này sang cộng đồng khác,
tất yếu, nó sẽ trở thành gia tài chung của toàn nhân loại. (N.V.H)
Bằng những phân tích
khoa học trên đây, chúng tôi có thể nêu lên định nghĩa Văn minh qua góc nhìn củaXã hội học Văn
hoá và Văn hóa học như sau:
Văn minh là toàn bộ những phát minh của con người dựa trên quá
trình tìm tòi và khám phá ra các “quy luật của tự nhiên”, để hình thành nên
những hệ thống lý thuyết “khoa học - kỹ thuật” cơ bản. Từ
đó sáng chế ra các “công nghệ - máy móc” ( công cụ sản xuất vật chất) và
những“sản phẩm vật chất” (đồ dùng sinh hoạt) mang tính thực dụng ( pragmatísme)
nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất của con người. Văn minh còn bao gồm toàn bộ “ kỹ
thuật sinh sống” và “tổ chức xã hội” nhằm thiết lập nên những “thiết chế” xã
hội mang tính hiện đại, giúp cho con người thực hiện được quyền sống, quyền tự
do và quyền dân chủ của mỗi cá nhân và cả cộng đồng - xã hội. (N.V.H)
Khi hiểu văn hoá theo nghĩa hẹp (theo Xã hội học văn hoá) thì “văn hoá
tinh thần” (Spiritual Culture)
bao gồm toàn bộ các hệ thống “chuẩn mực - giá trị”xã hội, đó là các tư tưởng truyền thống,là
những kinh nghiệm “tinh thần” của nhân loại. Chúng làm nền cho việc sáng chế ra
các loại hình “ngôn ngữ - ký hiệu”(công cụ sản xuất tinh thần). Từ đó, từng bước theo thời gian,
con người đã sáng tạo ra các sản phẩm tinh thần ( tác phẩm văn hoá ) mang “tính biểu
tượng”(Symbolic) nhằm thoả
mãn nhu
cầu tinh thần cho
con người. Các tác phẩm văn hóa ( theo Ký hiệu học văn hóa ) bao gồm các lọai
hình “
ngônngữ - văn hóa”như: ngôn ngữ - ký
hiệu nhìn (hội họa, điêu khắc,
kiến trúc.v.v..); ngôn ngữ - ký hiệu nói (văn hóa truyền khẩu); ngôn ngữ - ký hiệu nghe (nghệ thuật âm nhạc); ngôn ngữ - ký hiệu
động tác (nghệ thuật múa, xiếc,
thể thao, trò chơi dân gian.v.v..); ngôn ngữ - ký hiệu viết (văn bản văn chương, thi ca); ngôn ngữ - ký hiệu
tổng hợp ( nghệ thuật sân khấu,
điện ảnh, lễ hội), Chúng hình thành nên những “Di sản văn hóa vật thể ” ( tangible ) như: đình, đền,
chùa, miếu, lăng mộ, tháp, nhà thờ, nhà sàn, nhà rông, nhà mồ, tượng Phật,
tranh ảnh, v.v…và các vật dụnghayđồ
dùng trong sinh hoạt của các “danh nhân văn hoá” (ví dụ: nhà sàn và đôi dép của Bác Hồ v.v..)
hoặc trong các “chiến tích, chiến công” mang tính lịch sử ( ví dụ: xác máy bay B52, xe tăng phá cổng
Dinh Độc Lập v.v..) được cả cộng đồng xã hội công nhận. Chúng cũng bao gồm
những “Di
sản văn hóa phi vật thể” (intangible ) là những biểu hiện“tượng trưng” không sờ thấy được, nhưng được lưu truyền và
biến đổi trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Những di sản văn hoá vô hình
này thuộc các lĩnh vực như: âm nhạc dân gian, sân khấu dân gian, múa hát dân gian, văn hoá
truyền miệng, huyền thoại, các nghi thức tang ma, cưới hỏi, lễ hội truyền
thống, y dược cổ truyền, tri thức dân gian, kỹ thuật nấu ăn, bí quyết công nghệ
của các nghề truyền thống v..v.. Hai lĩnh vực “Di sản văn hoá vật thể” và “Di sản văn hoá phi vật thể” luôn quan hệ tương tácvới nhau như hình với
bóngngay trong lòng của mọi đời sống xã hội. Chúng thuộc lĩnh vực “văn hóa
tinh thần” và luôn mang “ tính
biểu tượng”Văn hóa tinh thần còn
cấu thành nên các tư tưởng truyền thống, lý tưởng đạođức, lý tưởng thẩm mỹ, chính trị xã hộiv.v..chúngbiểu hiệntrong các
lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo, lối sống, nếp sống, phong tục.v.v...để từ đó tạo nên các “ khuôn
mẫu văn hoá” giúp
cho con người có thể giao tiếp vàứng xử với thế giới chung quanh.. Mặt biểu hiện này được gọi là Văn hoá (culture).
Nói tóm lại,Văn hóa được hình thành trên mối quan hệ xã hội giữa con người với con người, dựa trên cơ sở phát triển của một “quan hệ sản
xuất” ( con người – công cụ
sản xuất tinh thần - con người) nhất định. Đó là trình độ của con người trong
việc nhận thức và khám phára các “quy luật của tinh thần” để có thể sáng chế ra “công cụ
sản xuất tinh thần” (ngôn ngữ - ký hiệu) và các “khuôn mẫu văn hóa”. Đồng thời, sáng
tạo ra các“tác phẩm văn hoá” mang tính biểu tượng nhằm thoả mãnnhu cầu tinh thần của con
người.(N.V.H )
Theo “Từ điển
bách khoa Văn hóa học” (nói ở trên), văn hoá tinh thần là: “Toàn bộ kinh nghiệm
“tinh thần” của nhân loại, các hoạt động “trí tuệ” và “tâm hồn” cùng những kết
quả của chúng, bảo đảm xây dựng con người với tính chất những nhân cách, tác
động dựa trên ý chí và sáng kiến. “Văn hoá tinh thần” tồn tại dưới nhiều hình
thái. Đó là những tục lệ, chuẩn mực, khuôn mẫu ứng xử đã hình thành trong những
điều kiện xã hội mang tính lịch sử cụ thể…, những giá trị và lý tưởng đạo đức,
tôn giáo, thẫm mỹ, xã hội, chính trị, hệ tư tưởng. v.v…” ( 4, tr 613)
Hiện nay, theo quan
điểm Xã
hội học hiện đại, các nhà khoa học
đang có xu hướng đi tìm “đơn vị cơ bản” di truyền đẩu tiên của xã hội, nhằm xác định
sự hình thành của xã hội như một loại hình tổ chức đặt biệt. Theo ý kiến của họ “đơn vị cơ
bản” sẽ xác định được sự di truyền
xã hội ( thông tin)và phải
tìm kiếm trực tiếp trong lĩnh vực “văn hóa tinh thần”. Các nhà Xã hội học hiện đại cũng cho rằng: “Văn hoá “di truyền”
không theo con đường sinh học mà bằng con đường học tập. Họ thừa nhận văn hoá
trực tiếp gắn liền với cácý tưởng, chúng tồn tại và được truyền đạt dưới hình
thức “ biểu tượng” (Symbol)”. ( 5 )
Do đó, bằng phương
pháp tiếp cận liên ngành từ Xã hội học văn hoá và Ký hiệu học trong nghiên cứu văn hóa, chúng tôi có thể nêu
lên định nghĩavăn hoánhư
sau:
Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người dựa trên quá
trình nhận thức và khám phá ra các “quy luật của tinh thần”, để hình thành nên
những hệ thống “chuẩn mực - giá trị” xã hội. Từ đó sáng tạo ra các “ngôn ngữ -
ký hiệu” ( công cụ sản xuất tinh thần) và những “sản phẩm tinh thần” ( tác phẩm
văn hóa) mang tính biểu tượng, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người.
Văn hóa luôn trực tiếp gắn liền với những “tư tưởng nhân văn” và được biểu hiện
ra bằng hình thức “biểu tượng” (symbol). Nó được xem như là “đơn vị cơ bản” của
văn hoá và tạo thành những “ khuôn mẫu văn hóa” giúp cho con người giao tiếp và
ứng xử với nhau trong đờisống xã hội. (N.V.H )
Nhìn chung, văn minh và văn hóa đã song song cùng tồn tại trong suốt chiều dài
lịch sử loài người. Chúng không có sự phân biệt trước sau như một số quan điểm
đã nhận định rằng, văn hoá có trước còn văn minh có sau, hay ngược lại, bởi, hai mặt này được “phátminh” và “sáng tạo” ra là nhằm để thoả mãn các loại nhu cầu vật
chấtvànhu cầu tinh thần của con người trong mọi hình thái
kinh tế- xã hội của
lịch sử nhân loại, từ khi loài người hình thành cho đến nay. ( N.V.H )
Và, cũng theo “Từ điển
bách khoa Văn hoá học”, mối quan hệ biện chứng giữa văn minh vàvăn hoá được viết như sau: “ Trong lịch sử nhân loại, văn minh và
văn hoá có sự thống nhất trong mâu thuẩn. Đó là hai phương tiện thực hiện tiềm
năng sáng tạo của con người. Trong văn hoá mọi yếu tố vật chất và tinh thần
phục vụ cho cuộc sống “ tinh thần”. Trong khuôn khổ văn minh, tinh thần lại
phục vụ cho “vật chất” và thực tiển. Nếu như thước đo của văn hoá là sự tận tụy
phục vụ “ý nghĩa caocả” thì thước đo của văn minh lại là sự khẳng định, là sự
độclập của con người trước những sức mạnh mù quáng“thiên nhiên” và thế giới“ không phân biệt cánhân” của
các cấu trúc xã xã hội ( tức hai mặt khoa học
– kỹ thuật và xãhội -pháp chế của văn minh ).( 4, tr. 613 )
Khi đề cập đến khái
niệm Văn
hiến, thì
người ta thường nghĩ ngay đến truyền thốngvăn hoá lâu đời và tốt đẹpcủa một nước, một dân tộc, được kết
tinh trở thành điển chương và hiền tài ( văn là sách vở, hiến là người tài) trong lịch sử. Còn những “di sản
văn hoá vật thể”qua các thời kỳ lịch
sử khác nhau, đuợc cả cộng đồng - xã hội công nhận thì sẽ trở thành Văn vật. Chúng luôn mang “tính biểu tượng” (Symbolic)nhằm thoả mãn “nhu cầu
tinh thần”của con người. Nó trở
thành “tài
sản tinh thần”của mỗicộng đồng quốc
gia - dân tộc.
Trong tương quan giữa
văn hoá và văn minh thì văn hoá thuộc "tĩnh" còn văn minh thuộc " động”. Song, không có nghĩa tuyệt đối là trong văn
hoá chỉ có “ tĩnh” và trong văn minhchỉ có“ động”. Hai mặt này - văn hoá và văn minh, luôn có mối quan hệ biện
chứng và gắn bó chặt chẽ với nhau; “ văn hoá trở thành cốt lõi và là
linh hồn của văn minh”. Có thể nhận định một cách quy ước, văn hoá có thiên hướng về sự bảo tồn, gìn giữ các giá trị - chuẩn
mực và bản sắc
dân tộc, thuộc
phạm trù truyền thống.Vì thế, văn hóa không có xu hướng biến đổihoàn toàn theo quá
trình phát triển của văn minh, cho dù văn minh có phát triểnnhanh và cao đến đâu đi chăng nữa, thì văn hóa vẫn phát triển một cách tiệm tiến, chậm rãi và liên tục, như dòng mạch ngầm thấm sâu vào cội nguồn
tâm thứccủa mỗi cộng đồng -
dân tộc. Còn văn minh có xu thế về sự hội nhập, tiếp nhận và học hỏi những yếu tố tiến bộ mang tính khoa học của thời đại, thuộc phạm trù hiện đại.
Xét về mặt giá trị thì văn minh có xu hướng thiên về cái chung, nó được chấp nhận ở đa số các cộng đồng xã
hội. Còn ngược lại, văn hoá có xu hướng thiên về cái riêng ( cái đặc thù), làm nên bản sắc riêngcủa mỗi cộng đồng - dân tộc. Nếu một dân tộc
nào đó không biết trân trọng và giữ gìn bản sắc văn hoá của dân tộc mình thì cho dù có phát triển văn minh cao đến đâu chăng nữa, cũng coi như đã tự đánh
mất mình để trở thành cái bóng của người khác. Hai mặt này luôn tồn tại trên từng dòng chảy
củalịch sử( tính thời gian ).
Khoa "Văn
minh học so sánh” cũng
tách khái niệm văn hoá ra làm hai mặt. Một là “văn hoá vật chất” bao gồm “khoa học - kỹ thuật” và các “máy móc”được
gọi là Văn minh, còn mặt khác là “văn hoá tinh thần” bao gồm hệ “giá trị - chuẩn mực” xã hội và các “khuônmẫu văn
hóa” được gọi làVăn hoá. Cả hai mặt đều xây dựng bằng khái niệm mang
tính “thao tác ”. Nếu văn minh biểu hiện về các “hiện tượngsinh hoạt” thì văn hóa thể hiện “ cách ứng xử ” của con người trong đời sống xã hội. Theo
nghĩa này, dù ở xã hội nào, thì văn minh và văn hoá cũng đều tồn tại song song với nhau trong đời sống xã hội ( tính không gian ).
Quan điểm trên đây,
với các khái niệm có tính chất công cụ (máy móc) như vậy, đã được Umesao-Tadao (GS người Nhật) đặt ra và ông đưa ra mô hình
xã hội của con người như sau: “Nghĩa là toàn bộ phần
ngoài của vòng tròn đồng tâm trong cơ cấu sinh hoạt là Văn minh (như cơ cấu máy
tính) còn phần cốt lõitrong đó là Văn hoá (phần mềm) tác động ra bộ phận bên
ngoài.” ( 6 )
Có thể cho rằng, văn hoá thuộc về "cái thể " (bản thể) còn văn minh thuộc về "cái dụng" (dùng, sử dụng) hay nói khác đi, “trí khôn” của con người biểu hiện ra bên ngoài (hướng
ngoại) do quá trình ngoại phóng đã trở thành văn minh, còn “trí khôn” con người biểu hiện vào bên trong (hướng nội) tức quá trình nội phóng đã tạo ra các giá trị văn hoá.
Trong đời sống xã hội
thường có sự lệch pha giữa văn minh và vănhoá, như trong một xã hội văn minh rất cao vẫn có hiện tượng suy thoái
văn hoá và ngược lại một xã
hội có truyền thống văn hoá lâu đời nhưng vẫn chưa có nền văn minh
hiện đại. Song văn hoá với tư
cách là hệ thống "giátrị tinh thần” đã trở thành “động lực” tương đối tác động trở lại đời sống xã hội để
giúp cho sự phát triển củavăn minh. Có ý kiến cho rằng, văn minh được ví như cái chân ga của chiếc xe ô tô, còn văn hoá được ví như cái chân phanh của xe giúp cho chiếc xe giảm tốc độ, tránh cho nó mọi nguy hiểm trên đường đi và
không bị rơi xuống vực. Đó là phép biện chứng giữa văn minh và văn hoá
trong đời sống xã hội.
Theo cách tiếp cận và
nhận thức như vậy, thì văn hoá không đứng ngoài quá trình phát triển đời sống xã hội, nó nằm trong quá trình này và
trở thành yếu tố “nội sinh" của sựphát triển. Nó vừa là mục tiêu vừa là động lực và còn là hệ điều tiết của đời sống xãhội. Bởi lẽ, yếu tố hàng đầu
của văn
hoá chính là sựhiểu biết, và là trí khôn của con người, được tích luỹ trong quá trình
học tập, lao động sản xuất và đấu tranhvới tựnhiên suốt chiều dài lịch sử nhân
loại, để duy trì và phát triển cuộc sống của mỗi cộng đồng dân tộc. Nói như Abraham Moles (Pháp) "Văn hoá - đó là chiều cạnh trí
tuệ của môi trường nhân tạo, docon người xây dựng nên trong đời sống xã hội của
mình". ( 7 )
Trong thời đại ngày
nay, xu hướng phát triển theo con đường văn minh hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành luồng sóng dữ dội, nhất là các
nước thứ ba, chậm phát triển, đang tích cực đi theo. Con đường công
nghiệp hoá và hiện đại
hoá là cần thiết nhằm phát
triển đời sống xã hội. Song, vấn đề đặt ra là phải phát triển như thế nào nhưng vẫn giữ được bản sắc
văn hoá dân tộc.
Chưa bao giờ vấn đề
gìn giữ “bản sắc dân tộc” lại được coi trọng như ngày hôm nay. Nhận
thấy tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu rõ: "Đi vào kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu
quốc tế, công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, tiếp thu những tinh hoa của
nhân loại, song phải luôn luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc
dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình, trở thành bóng mờ hoặc bản saochép
của người khác. ( 8 )
Unesco cũng cho rằng: Nước nào tự
đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì
nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hóa,
thậm chí tiềm năng sáng tạo cũng không còn.
Nhưng công
nghiệp hoá và hiện đại
hoá không phải là một công
việc dễ dàng, nhất là đối với các nước Châu Á, trong đó có Việt Nam, đã có bề dày củanềnvănhoá truyềnthống với quan niệm sống "giản
đơn" và "biết
đủ", theo một phương thức "nội
giao" khép kín, cùng sức ỳ
của những giá trị văn hoá cổ truyền đang còn bám rễ ăn sâu trong từng nếp nghĩ
suy của người phương Đông. Nếp sống đó đã được định hình từ hàng nghìn năm nay,
nên chưa bắt kịpvới nhịp sốnghối hả và mạnh mẽ theo tiết tấu công nghiệp, hiện đại, của nền văn minh phương
Tây. Song, nhu cầu văn minh hóa nhằm phát triển đời sống xã hội lại là nhu cầu
bức thiết không thể thiếu được
đối với đời sống của con người hôm nay.
Thực chất, quá trình văn minh
hoá không chỉ là quá trình kinh tế
hoá và công nghệ
hoá đơn thuần, mà còn phải
phát xuất từ một thể chế chính trị - xã hội nhất định, từ các giátrị định hướng và các "khuôn
mẫu văn hoá"cổ truyền – “Cổ mẫu” (Archetypes) đang chìm sâu trong nền văn hoá truyền thống, cùng
những yếu tố tâm lý và tính cách dântộc.
Chúng ta thừa nhận sự thất bại phần lớn của một số nước thứ ba, đã và đang
trong quá trình hiện đại hoá – văn minh hoá theo đường lối "phương Tây hoá" tức là đường lối tăng trưởng kinh tế bằng
phương thức "ngoại sinh". Hậu quả này bắt nguồn từ quan niệm cho rằng,
muốn "tiến
hoá" thì phải nhanh chóng
thay đổi xã hội đúng theo mô hình phương Tây. Phải chăng, đã có sự “thiên kiến” khi cho rằng văn minh phương Tâycao thì trình
độ văn hoá phương Tây cũng rất cao, có thể phát xạ giúp cho các nước lạc hậu
trở thành những nước văn minh - hiện đại, rập khuôntheolối sống phương Tây.
Điều này xem ra chưa
đúng trong thực tế, bởi lẽ, có những nước phương Tây hiện đại tuy có nền “văn minh
vật chất” đã phát triển cao,
nhưng lại bị thoái hoávề mặt “văn hoá tinh thần”, thậm chí còn đánh mất đi bản sắc văn hoá
truyền thống - dân tộc, điều đó là một nghịch
lý. Vì thế, sự phá sản của “chủ nghĩa châu Âu là trung tâm” về văn hoá, tức là sự phản ứng cách nhận định
về trình độ văn minh của các dân tộc thấp kémthì chỉ cần dựa vào một “khuôn mẫu
văn hoá”của Châu Âu là tốt
nhất. Sự khắc phục cái gọi là “chủ nghĩa châuÂu là trung tâm”, góp phần hình thành các quan niệm vể “nền văn
minh đa cực” và
về nhiều nền văn hoá luôn có “giá trị tự thân”. Nói khác đi, là không có “nềnvăn hoá trungtâm”áp đặt các nền văn hoá khác phải theo, và
cũng không có nền văn hoá cao hay thấp, vì văn hoá thuộc về “giá trị tinh thần” và trong lòng của nó luôn mang giá trị “nhân văn”. Vănhoá không bị ảnh hưởnghoàn toàn vào các nền văn minh, văn hóa có tính độc lập tươngđối, đồng thời nó còn vừa
là mục
tiêu vừa là động lực tác động trở lại giúp cho nền văn minh pháttriển bền vững.
V.M. Mêgiuép viết, “Không nên phán xét văn
hoá bằng cách xuất phát từ một triển vọng đặc trưng cho giai đoạn lịch sử châu
Âu. Tri thức về văn hoá của bản thân mình vẫn chưa đem lại tri thức về các nền
văn hoá khác, mỗi một nền văn hoá đều cần được khảo cứu trong tính độc lập và
độc đáo ( bản sắc riêng ) của nó. ( 9, tr.67 )
Người ta ngày càng
hiểu rõ rằng bản chất cốt lõi củavăn hoá là “ tínhnhân văn”, đã tác động trực tiếp đến sự phát triển và
luôn chiếm giữ một ý nghĩa thật to lớn với sự tiến bộ của đời sống xã hội. Văn
hoá không được coi là"một thứ trang trí ” (Theo lời F.Mayor),ngày nayvăn hoá đã được nhìn nhận“ là nền tảng và là
linh hồn của cuộc phiêu lưu của con người. Trước kia người ta coi nó là thứ
yếu, ngày nay người ta bắt đầu nhận ra nó là cốt lõi của mọi vấn đề”. [10, tr.35 ]
Trước đây, chúng ta
thường lý giải cơ sở “kinh tế là nền tảng xã hội” trên đó xây dựng kiến trúc thượng tầng,trong đó có văn hoá. Do vậy, vănhoá phải chịu sự quy định chặt chẽ
của kinh tế, tất nhiên văn hoá có sự tác động tương đối trở lại đối với kinh
tế. Song, với quan niệm “đổi mới” hiện nay cho rằng “văn hoá
là nền tảng tinh thần” của xã hội thì nhận định về vănhoá và phát triển cũng có sự thay
đổi: "Đúng là lĩnh vực văn hoá tinh thần thường mang dấu ấn của các
hình thái kinh tế - xã hội. Về phương diện đó văn hoá nhất trí với thượng tầng
kiến trúc. Nhưng từ đó không thể kết luận nó luôn nằm trong thượng tầng kiến
trúc, vì trong lĩnh vực văn hoá còn có những yếu tố nằm ngoài kiến trúc thượng
tầng, thí dụ, các “tri thức khoa học tự nhiên”, “ngôn ngữ” với tư cách là
phương tiện giao tiếp xã hội, các “quy tắc tư duy” v.v...".( 11, tr.41 )
Nói văn hoá là nói đến
những “chuẩn
mực - giá trị” được các cộng đồng dân tộc và nhân loại liên tục sáng tạo ra trong quá trình lịch sử lâu dài. Có những
giá trị như “chân - thiện - mỹ” là những giá trị trường tồn mãi trong lịch sử loài người, nó đảm
bảo đượctínhliên tục trong tiến trình lịch
sửnhân loại và của dân tộc. Các giai cấp khác nhau đã ghi lại dấu ấn của mình
và tạo ra những giai đoạn khác nhau trong lịch sử phát triển văn hoá, nhưng
không thể làm biến dạng nền văn hoá nhân loại.
Phê phán nhóm "văn
hoá vô sản" ở
Nga đầu những năm 20, Lê nin chỉ ra rằng: “khái niệm văn hoá lớn
hơn ý thức hệ. Có nghĩa là, trong văn hoá có những nhân tố nằmngoài ýthức hệ”.( 11, tr.42 )
Về mối quan hệ biện
chứng giữa văn minh và văn
hoá giáo sư Nguyễn Hồng Phong cũng nhận định: "Văn hoá không hoàn
toàn thuộc thượng tầng kiến trúc, nó không thay đổi theo sự thay đổi của phương
thức sản xuất, của cơ sở kinh tế xã hội. Các cuộc cách mạng lớn, chân chính đều
thể hiện tính liên tục về văn hoá và văn hoá chính là động lực của cách mạng. Giữa tính truyền thống và tính hiện
đại có sự kế thừa và kết hợp".( 12, tr.6 )
Qua đó, ông cũng nêu
lên tấm gương về sự kết hợpgiữa văn hoátruyền thống với văn minh hiện đại của Nhật Bản, họ đã biết sử dụng các giá trị của văn hoá truyền
thống để phục vụ cho phương
thức sản xuất mới. Vẫn tầng lớp quý tộc
Samurai đã làm cuộc cách mạng Minh Trị cung cấp những nhà kinh doanh, nhà quản
lý, nhà giáo dục đầu tiên cho thời cải cách. Đất nước "Mặt Trời mọc" đã biết học khoa học -
công nghệ phương Tây nhưng kết hợp với giá trị văn hoá Nhật Bản đó là "Tân Khổng giáo" để vươn mình
đứng lên trở thành một trong những con Rồng của Châu Á.
Nghị quyết hội nghị
lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII "Về một số nhiệm vụ văn
hoá, văn nghệ những năm trước mắt" nêu rõ: "Văn hoá là nền tảng tinh
thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng
thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội". ( 13, tr.5 )
Lâu nay, chúng ta chỉ
chú ý đến cơ sở kinh tế, ít ai nghĩ đến một cơ sở khác, một nền tảng khác. Đó là văn hóa, nó chính là cơ sởvà lànền tảng tinh thần, là toàn bộ những giá trị tinh thần của dân tộc và của nhân loại sáng tạo ra.
Những giá trị đó thực chất là tiềm năng, là năng lượng tinh thần, góp phần làm nên sức mạnh, phẩm chất và năng
lực của các thế hệ công dân, đồng thời nó còn biến thành động lực tác động trở lại đời sống xã hội nhằm thúc đẩy
cho nềnkinh tế phát triển. Thiếu nó, dân tộc khó phát triển vững mạnh.
Và, trong tinh thần
đổi mới, hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảngkhoá VIII "Về
xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc" cũng nhận định:"Những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ thế giới
cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thu những
thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới
trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc".( 14 )
Tư tưởng trên không
chỉ có ý nghĩa khẳng định các “ giá trị văn hoá” quá khứ của dân tộc, của nhân loại trước đây
và hiện nay, mà còn hình thành một quan niệm mới về cơ sở phát triển của đất
nước theo mô hình văn minh phương tây kết hợp với văn hoá dân tộc. Đó là mô hình đúng đắn nhất, là phương hướng
chiến lược cùng các nhiệm vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ xây dựng và phát triển nềnvăn hoá nước ta,
Về mối quan hệ biện
chứng giữa truyền thống và
hiện đại, cố giáo sư Trần Quốc Vượng trong một bài viết có nhận định rằng: “Văn hoá và phát triển
ở Việt Nam thực chất biểu thị ở mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại. Và,
một trong những vấn đề quantrọng hàng đầu của phát triển lôi cuốn văn hoá là
liên tục tính”. ( 15, tr. 200 - 203 )
Ở các nước phương
Tâyquan niệm truyền thống là sự bảo thủ, lạchậu, do vậy, giữa truyền thống và hiện đại luôn có một khoảng cách lớn, phát triển cũng
là đoạn tuyệt với quákhứ. Có một giai đoạn khá dài chúng ta cho rằng muốn xây dựng “văn hoá
mới ” phải xoá bỏ "văn
hoá truyền thống" đã lỗi thời và lạc hậu. Như vậy, hiện đại hoácũng có nghĩa là “tây phương hoá", lấy văn hoá hiệnđại thay cho vănhoátruyền
thống. Sự phát triển là một đứtđoạn về văn hoá, cho nên đã cực đoanxoá bỏ các
giá trị truyền thống – các “khuôn mẫuvăn hoá” cổ truyền. Đó là việc làm mang tính ấu trĩ, duy ý
chí , vì phát triển không
tính đến yếu tố "nội sinh", không xem vănhoálànền tảng tinh thần, một động lực tác động trở lại nhằm thúc đẩy cho đời sống
kinh tế phát triển.
Như vậy, văn hoá chưa
hẳn đã hoàn toàn theo quy luật "tiến hoá" như văn minh. Văn hoá sau không chắc tiến bộ
hơn văn hoá trước ( với
các “tác phẩm văn hoánghệ thuật”là một minh chứng ), văn hoá vùng nàychưa phải đãcao hơn văn hoá vùng khác(thuyết “Trung tâm Châu Âu ”)
mà chỉ có nền “văn hoánhân bản”hoặc là “phi nhân bản”. Nói khác đi, văn hoákhông có sựcắt đoạn mà nó liên tục "chuyển
hoá" trên dòng đi của lịch
sử và phát triển theo từng vùng văn hoá khác nhau (Sub Culture), hình thành nên
các tiểu
vùng văn hoá, và
tạo nên sự "thống nhất trong đa dạng” với nền văn hoá chung của toàn nhân loại. Văn hoá là mặt biểu thị về "giá
trị tinh thần" đối với văn minh, và cùng nhau tồn tại từ rất lâu đời trong lịch
sử nhân loại. Ví dụ như ta có: "nền văn minh lúa nước" và "nền văn hoá cộng đồng làng
xã" đã cùng song song tồn
tại trong cộng đồng - dân tộc Việt Nam.
Trong lòng mỗi dân tộc
đều có nền văn minh và văn hoá riêng của mình. Sự khác nhau về các “ biểu
tượng văn hoá” chính
là sự khác nhau về các "khuôn mẫu văn hoá” giúp cho nền văn minh của dân tộc đó phát
triển nhưng không làm mất đi "bản sắc văn hoá" của dân tộc mình. Quá trình "văn
minh hoá" có
tốt đẹp hay không là còn phụ thuộc vào sự “định hướng”của văn hoá và điều kiện phát triển của từng nước, của
từng cộng đồng - dân tộc, khiến cho quá trình này phát triển nhanh hoặc dậm
chân tại chỗ. Bởi lẽ, đời sống xã hội có văn minh - hiện đại đến đâu đi chăng nữa nhưng để mất đi "tính
nhân bản” thì đó là điều bất
hạnhcho loài người. Chính hai quả “bom nguyên tử” của Hoa Kỳ trút xuống đất nước Nhật Bản trong
thế chiến thứ hai đã là điều minh chứngcho cái gọi là sự“tiến bộ”của nền vănhoá phương Tây.
Khi đề cập đến văn
minh phương Tây và hậu quả của nó, ta cũng không thể quên sựkhác biệt giữavăn
hoá phương Tâyvớivăn hoá phươngĐông. Nền triết học phương Tây thiên về "duy lý” khác với sự “minh triết " của nền triết lý phương Đông, thiên về “duy thức”. Đó là một trong những mấu chốt cơ bản để nhìn
thấy sự khập khiễng khi cố áp đặt một cách rập khuôn mô hình phát triểncủa các nước phương Tây vào
quá trình xây dựng nền vănminh phương Đông. Vấn đề đặt ra là sau mấy trăm năm
phát triển nền “văn minh cơ khí hiện đại” thì chính các nước này, giờ đây phải có lúc đã
giật mình nhìn lại khi thấy nguy cơ của sự băng hoại các giá trị đạo đức và dần mất đi nền tảng tinh thần của một dân tộc. Trước sự sa sút về đạo đức và
sự suy sụp về các "giá trị nhân bản" thì xu hướng quay về tìm hiểu các giá trị “văn hoá
tinh thần” của phương Đông đã trở
thành những luồng sóng lớn mà phương Tây đang có cuộc hành hương về
nguồnđể tìm lại các giá trị
văn hoátruyền thống đã mất.
Đi theo văn minh khoa
học - kỹ thuật phương Tây nhưng chúng ta cần nhìn ra được bản chất của nó với
đầy đủ sự nghịch lý nằm ngay trong lòng của nền kinh tếtư bản. Quá trình phát triển của cơ chế kinh tế thị
trường với những hiệu quả khoa học và công nghệ hiện đại, khiến cho của cải vật chất ngày càng
tăng lên nhưng đồng thời sự phân hoá giàu nghèo càng thêm gay gắt. Cùng với
việc gia
tăng của cải vật chất đồng thời cũng gia tăng sự tha hoá về mặt tinh thần, gia tăng bệnh tật và cả tội ác. Bên cạnh đó
còn biết bao điều hiểm hoạ của sự phá hoại môi trường tự nhiên một cách thô bạo
vì sự khai
thác tài nguyên thiên nhiên một cách triệt để, nhằm mưu cầu lợi nhuận. Con người đã phải trả
giá thật đắt cho việc làm đó, bằng những thảm hoạ sinh thái do môi trường bị ô nhiễm hóa chất và ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng hiệu ứng
nhà kính cùng với những trận động đất lớnvà những cơn đại hồng thủy, đã cướp đi bao sinh mạng vô tội mà chúng ta
từng chứng kiến trong vài thập kỷ vừa qua và hiện nay ( Nhật Bản cùng một số
nước khác ).
Từ đó, chúng ta cần
nhận định lại những gì là ưuvà nhượcđiểm của nền văn minh phương Tây, để có sự chọn lựa thật khôn ngoan và đúng
đắn trong xu thế văn minh hoá ở các nước còn lạc hậu. Trong quá trình văn minh
hoá ta cũng nhận thấy có sự khác nhau về bản chất của văn hoá, trên nhiều phương diện của hai nền văn minh phương Tây và văn minh phương Đông. Nó bắt nguồn từ nền tảng tinh thần, từ động
cơ và tính mục đích trong định hướng phát triển đời sống xã hội ở mỗi khu vực,
cho nên quá trình hiện đại hoá và văn minh hoá ở mỗi nơi có sự khác nhau về
chất. Động cơ phát triển của nềnvăn minh phươngTâylà chú trọng đến đời sống vật chất, sự thoả mãn những dục vọng, về cảm giác và dục tính, tự do phóng túng,
đề cao vai trò cá nhân với sự phá vỡ hệ thống. Trái lại, động cơ phát triển của
nền văn minh phương Đông là chú ý đến đời sống tinh thần, thiên về tính nhân bản, giải phóngtâm thức, hướng nhiều đến đời sốngtâm linh mong đạt đến con người hoànthiện, hoà hợp với thế giới tự nhiên.
Mục đích cao nhất của
nền văn
minh phương Tây là
hoài bão về một “xã hội lý tưởng”, có thể thoả mãn mọi nhu cầu, mọi khát vọng về sự hưởng thụ vật chất, về
một thiên đườngtrần thế. Trái lại, nền văn minh phương Đông lại hoài bão một “xã hội đại đồng", có thể sống với nhau một cách hoà hợp với trật
tự của vũ trụ vô biên, phù hợp với “quy luật tự nhiên”. Và, cố gắng vươn tới những “giá trị nhân văn” trong sự hoà đồng, hoà hợp toàn diện, kêu gọi
con người sống theo sự toàn thiện của chính mình trong mọi hoàn cảnh.
Nói đến văn hoá là nói
đến giá
trị đạo đức, giá trịthẩm mỹ. Phương Tây thiên về cái "Đẹp", còn phương Đông thiên về cái "Thiện", nó bao gồm những giá trị, những chuẩn mựcgiúp cho con người có định hướng trong khi
thoả mãn các nhu cầu vật chất.
Do vậy, trong quá
trình văn
minh - hiện đại hoá đời sống xã hội ở các nước phương Đông, phải cần quan tâm đến yếu tố văn hoá -
nội sinh, nó
chính lànền tảng tinh thần và có vai trò định hướngcho quá trình phát triển của văn minh đi đúng theo quỹ đạo của mình. Nếu bỏ qua vai
trò định
hướng và điều tiết của văn hoá thì chủ thểvăn minh sẽ trở nên tha hoávà sẽ biến thành nô lệ của đời sống vật chất.
Từ đó, dẫn đến sự suy thoái về mặt văn hoá tinh thần, làm mất đibản sắc và tính cách của cả một cộng động - dân tộc.
Xét về mặt lịch sử,
hàng vạn năm trước đây khi loài người hình thành nên đời sống văn
hoá thì đồng thời văn minh cũng xuất hiện, như văn minh sử
dụng lửa ( văn hoá ăn thịt
chín) Hiện nay, trong lòng của nền vănminh thành thị-công
nghiệp hiện đại, thì vẫn có sự tồn
tại của các giá trịvăn hoá cổ truyền.Văn minh và văn hoá không phủ định nhau
màtương hỗ cho nhau cùng phát triển. Văn hoá mang yếu tố "tĩnh" vì bản chất nền tảng của nó là "động" (thời gian) còn văn minhmang yếu tố "động" vì bản chất của nó là "tĩnh" (không gian).
Unesco cũng
nói về phép biện chứng giữa truyền thống và hiện đại: “Đó là nguyên tắc động,
cho phép một xã hội biến đổi mà không làm mất hình thế độc đáo của nó,chấp nhận
sự thay đổi mà không tự tha hoá, do đó tiếp tục quá trình liên tục của sự sáng
tạo của nó, theo phép biện chứng liên tục của truyền thống và tính hiện đại,
của tính liên tục và tính đứt đoạn, của di sản và sự đổi mới". ( 15, tr 200 - 203 )
Theo quan điểm trên
đây, đó chính là tínhbiện chứng giữa nhân tố ngoại sinh trong sựphát triển nội sinh. Sự phát triển nội sinh không khước từ yếu tốngoại sinh mà đó lại là sự tiếp biến văn hoá trong quá trình phát triển đời sống xã hội.
Yếu tố ngoại sinh tuy là yếu tố mới, nhưng phải là yếu tố tiến bộ và phải thích hợp giúp cho xã hội biến đổi
tiến bộ. Không thể ghép một "Gen lạ" vào trong sinh thể xã hội, làm vậy, chỉ khiến
cho nó biến dạng và có thể sinh ra “quái thai” của thời đại. Quá trình tiếp nhận yếu tố ngoại lai quá khác biệt lại có sự
đồng hoá sẽ tạo nên một nền văn hoá mất bản sắc, cũng là sự từ bỏ các giá trị
đạo đức truyền thống.
Daisaku Ikeda (Nhật) cho rằng: Cần phải có sự chuyển biến căn bản trong suy
nghĩ về mối quan hệ biện chứng giữa tinh thần và vật chất. Sự nâng cao mức độ phúc lợi
tinh thần phải trở thành mối
quan tâm đầu tiên sau đó mới nâng cao phúc lợi vật chất, tức là phải ưu tiên nâng cao trình độvăn hoá, tôn giáo,
giáo dục, học thuật và nghệ thuật của xã hội. Điều đó nói lên vấn đề tinh thần và văn hoá được đặt lên hàng đầu, thì sẽ tạo ra động lựccho kinh tế và những tài năngsáng tạo của con người sẽ có cơ hội phát triển một cách
toàn diện.
Hiện nay, không nên
quan niệm phát triển là quá trìnhtiệm tiến theo thuyết tiến hoá từ thấp đến cao, mà phát triển có những bước nhảy vọt bằng tốc độ của thời đại vượt cả không gian,
lẫn thời gian. Quá trình văn minh hoá và văn hoá hoá là hai mặt của sự phát triển. Chúng có mối quan hệ biện chứng giữa hiện đạivới truyền thống, giữa kế thừa với giao lưu, giữadân tộc vớihội nhập trong quá trình tiếp biến văn hoá. Hiện đại không phải bê nguyên si cái mới
vào, truyền thống không phải là bảo thủ, giữ lại toàn bộ cái cũ - cái lạc hậu
không còn mang giá trị tích cực đối với đời sống xã hội.
Phải biết hiện đại
hoá cái truyền thống và
biết truyền
thống hoá cái hiện đại, để sao
cho hiện
đại nhưng vẫn giữ được truyền thống và trong cái truyền thống lại phải có nhân tố của hiện đại. Văn hoá không chỉ phát triển đơn tuyến mà đa tuyến, không chỉ phát triểntheo cái mớimà còn quay
về để cách tân cái cũ cho phù hợp với hiện đại, nhằm năng động hoá toàn bộ di
sản dân tộc. Hiện đại hoá còn làm sống lại, phục hưng cái cũ, tức là trong quá
trình văn
minh hoá vẫn giữ được bản sắc
văn hoá dân tộc, vẫn giữ được
cáicổ truyền, đó mới là con đường đi đúng đắn để thúc đẩy xã hội phát triển,
cũng là để góp phần xây dựng ngôi nhà văn hoá chung của toàn nhân loại.
Chủ trương giữ gìn bản sắc văn hoá
dân tộc đi đôi với việc tiếp
thu tinh
hoa văn hoá thế giới trong thời kỳ hội nhập của Đảng cộng sản Việt Nam là phù hợp với
luận điểm về tính liên tục văn hoá, giữa truyền thống với hiện đại, giữa tiên tiến với cổ truyền. Đó cũng chính là sự biểu hiện của mối quan hệ
biện chứnggiữavăn minh vàvăn hoá trong quá trình phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Khổng Tử san định Kinh Chu Dịch
bản nghĩa, (
người dịch: Nguyễn Duy Tinh), Trung Tâm học liệu, Bộ Giáo dục, Sài gòn, 1972
2. Phan Ngọc Bách khoa
toàn thư Liên Xô, Nxb Thanh Niên, Hà
Nội, 1999
3.Ph.Anghen Biện chứng tự
nhiên Nxb Sự Thật. Hà Nội,
1971
4..A.A. Radugin Từ điển bách
khoa Văn hoá học (
người dịch: Vũ Đình Phòng), Viện nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội., 2002
5. V.M. Rodin, Những định
nghĩa về văn hoá trong
Văn hoá học - Gíáo trình Đại học Mát-xcơ- va, 1998. GS. HoàngVinh dịch tr. 3
bản vi tính.
6. Homo yasuhei,
Tanosheky Akio, Mitsuyoshi Toshuky, Cơ sở xã hội học, Tokyo, 1990 (Hồ Hoàng Hoa dịch)
7. Hoàng Vinh, Khái niệm văn
hóa, Tham luận hội thảo
khoa học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996.
8.Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, HàNội, 2006
9. V.M.Rôđin, Văn hoá học,Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000
10. Tạp chí Người đưa tin
Unesco,số 10. 1994
11. Tập bài giảng Văn hóa xã
hội chủ nghĩa , Nxb Chính trị Quốc gia, HàNội, 1997
12. Nguyễn Hồng Phong, Văn hóa và sự
phát triển nội sinh (bản
in roneo)
13. Văn kiện Hội
nghị lần thứ IV, Ban chấp hành Trung
ương khóa VII, Nxb Sự thật, Hà Nội.
14. Nghị quyết
Đại hội lần thứ 5, Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII, Bộ Văn hóa Thông tin.
15. Hoàng Vinh,Mấy vấn đề lý luận và
thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Viện Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1999

