
Nếu văn hóa xác định con người ở thước đo sự phát triển của nó,
ở các phương thức tự biểu hiện trong các dạng hoạt động khác nhau, thì khái
niệm văn minh xác định sự tồn tại xã hội của bản thân văn hóa. Nền văn minh của
thế giới hiện đại không phải là điểm xuất phát, mà là kết quả của quá trình
tiến hóa phức tạp, lâu dài của những nền văn minh địa phương riêng lẻ đầu tiên,
trong đó có những nền văn minh đã bị hủy hoại, bị tiêu diệt một cách thảm hại.
1. Cặp thuật ngữ văn hóa và văn minh liên quan đến một trong những
khái niệm đa nghĩa nhất với nhiều cách giải thích khác nhau. Thoạt đầu từ văn
hóa xuất hiện trong tiếng La tinh, có nghĩa là vun trồng đất đai, lao động nông
nghiệp. Về sau, từ này có một nghĩa bao quát hơn. Nhà hùng biện La Mã, đồng
thời là nhà triết học M.Xixêron trong cuộc trao đổi với Tutxculan (năm 45 trước
công nguyên) đã gắn văn hóa với sự tác động đến hoạt động trí tuệ của con
người, với công việc của nhà triết học. Ông cho rằng: triết học là văn hóa (sự
vun trồng) tâm hồn. Tiếp đó, người ta bắt đầu hiểu từ văn hóa có nghĩa là sự
khai trí, giáo dục và trình độ học vấn của con người; theo nghĩa này từ văn hóa
thâm nhập vào hầu hết ngôn ngữ các nước ở châu Âu, trong đó có nước Nga. Trong
tác phẩm Văn hóa, sự hình thành, biến đổi khái niệm, sự thay thế khái niệm từ
M.Xixêron đến Hécđerơ, I.Niđécman đã chỉ ra rằng, nghĩa của từ này đã thay đổi.
Bắt đầu từ thế kỷ XVII, trong tư tưởng Khai sáng ở nước Đức (X.Puphenđoócphơ)
khái niệm văn hóa đã được sử dụng với nghĩa rộng rãi hơn - đó là tất cả những
gì do con người tạo ra, tồn tại bên cạnh thiên nhiên trinh nguyên, chưa có sự
động chạm của con người.
Normal
0 false false false MicrosoftInternetExplorer4
Vào các thế kỷ XVII-XVIII thuật ngữ văn hóa mới mang ý nghĩa của
một khái niệm khoa học. Trong khoa học thời cận đại đã ra đời một quan niệm cho
rằng: giữa thiên nhiên và nhân cách tồn tại một thế giới đặc biệt của hoạt động
người, thế giới đó được gọi là văn hóa.
Ngày nay, khoa học về văn hóa đã hình thành nên hơn 300 định
nghĩa, điều đó chứng tỏ rằng có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong nghiên cứu
văn hóa.
Từ cuối thế kỷ XIX, trường phái nhân học văn hóa của Hoa Kỳ (Franz
Boas, A.Kroeber, M.Mead…) đã có ảnh hưởng rất lớn. Trong trường phái này vấn đề
được đặt lên hàng đầu là động học phát triển của văn hóa và các cơ chế truyền
đạt văn hóa đi qua các thế hệ.
Trong khuôn khổ của nhân học văn hóa Hoa Kỳ đã sản sinh ra khái
niệm phương pháp giao lưu tiếp biến như là quá trình tiếp xúc giữa các nền văn
hóa, mà kết quả của những cuộc tiếp xúc này đã làm biến đổi các hệ thuyết
(paradigms) văn hóa (F.Herskovits, J.Menvin, Ô.ốttenbécgơ). Theo phương pháp
này, sự khác biệt văn hóa giữa các cộng đồng tộc người sẽ được san bằng qua
những cuộc tiếp xúc liên tục và trực tiếp.
Vào đầu thế kỷ XX, lý thuyết nhân học xã hội (trường phái chức
năng) của các nhà dân tộc học và xã hội học người Anh là B.Malinowski và
Radeliffe Brown đề ra khái niệm cấu trúc xã hội. Malinốpxki đã phân tích ý
nghĩa của các thiết chế xã hội và ảnh hưởng của chúng đối với sự kiểm tra và
điều tiết hành vi con người. Nhờ sự hỗ trợ của phương pháp chức năng, ông đã
miêu tả những hình thái khác nhau của sự tương tác xã hội và đã sử dụng khái
niệm văn hóa như là một tổng thể thiết yếu của các hệ thống xã hội tương liên.
Nguyên lý chức năng luận cho phép xem xét văn hóa như một hệ thống chỉnh thể
nội tại, được tạo ra từ tổ hợp của những yếu tố cần thiết, gắn liền bằng các
mối quan hệ phụ thuộc vào nhau về mặt chức năng. Mỗi nền văn hóa khi trở thành
bậc thang của trình độ phát triển văn hóa chung, nó sẽ không còn tương quan với
các nền văn hóa khác nữa.
Thuyết chức năng đã góp phần làm giàu cho ngành dân tộc học bằng
tri thức về các nền văn hóa của các dân tộc cổ đại. Nhưng hạn chế của lý thuyết
này biểu hiện ở chỗ, khi phủ nhận sự tiến hóa về xã hội và văn hóa, nó đã làm
mất đi tiêu chuẩn thống nhất của sự phát triển văn hóa trong toàn bộ lịch sử
nhân loại. Tiếp đó, xuất hiện khái niệm về bản sắc văn hóa của những dân tộc
khác nhau, thừa nhận tính bất tương hợp giữa các nền văn hóa của các dân tộc
ấy, người ta gọi đó là thuyết tương đối văn hóa.
Dựa trên cơ sở khái quát những kết quả nghiên cứu của nhân học văn
hóa và xã hội, người ta đề xuất cách tiếp cận giá trị học - tức tiếp cận giá trị
để hiểu văn hóa. Việc sử dụng rộng rãi khái niệm văn hóa như là tổng thể các
giá trị vật chất và tinh thần bắt đầu từ công trình của V.Vinđenbanđơ. Văn hóa
được xem như là hệ thống những phương thức hoạt động theo chuẩn mực, những thủ
pháp hoạt động mong đạt tới các kiểu mẫu điển hình. Các đại biểu nổi tiếng của
lưu phái này là: G.Rikkert, G.Côghen, Ph.Bơrentanô, M.Selerơ và V.Vunđơ… Trong
các ngành triết học và văn hóa học của Nga có các đại biểu: G.Karpov,
A.Zvorkin, G.Phransev… Ưu điểm của cách tiếp cận là: sự nới rộng của nó cho
phép hình dung văn hóa như là biểu hiện các khía cạnh và lĩnh vực khác nhau của
đời sống xã hội. Mặt khác sự giải thích giá trị học đã khuôn các hiện tượng văn
hóa vào lĩnh vực giá trị tương đối hẹp, ở đó thiếu hẳn những tiêu chuẩn chặt
chẽ của chúng.
Một số các nhà nghiên cứu có ý định giải thích cơ sở bản năng của
văn hóa con người, bằng cách quan tâm nghiên cứu những thành tố tự nhiên trong
văn hóa, những đặc điểm về cuộc sống tự nhiên của con người. Các nhà nghiên cứu
Ph.Hamintơn, G.Spencer, S.Freud và một số nhà khoa học khác đã lấy cách tiếp
cận này làm chính để xác định bản chất của văn hóa. Trong văn hóa học, trào lưu
này gọi là trào lưu tự nhiên. Theo ý kiến S.Freud thì sự phát triển văn hóa là
sự phát triển trí năng và sự chuyển nhập hướng nội những xung lực hung tính của
con người cùng với toàn bộ ưu thế liên tục và những hiểm họa. Theo S.Freud, văn
hóa là xu hướng kiểm tra gay gắt của con người đối với các dạng hoạt động xã
hội có lợi cho nó.
Gần gũi với quan niệm của Freud - người sáng lập ra tâm lý học
phân tích chiều sâu là C.Jung nghiên cứu biểu hiện hồn nhiên của những mô-típ
phôn-cờ-lo và huyền thoại trong giấc mơ của những bệnh nhân và đã đi đến kết
luận, rằng trong tâm trạng của con người hiện đại có chứa đựng kinh nghiệm của
các thế hệ xa xưa. Phương pháp luận nhận thức những hiện tượng xã hội thông qua
sự bộc bạch cái vô thức có ảnh hưởng lớn đến nghệ thuật, tâm lý học, xã hội học
và đã được vận dụng rộng rãi trong các khoa học khác.
Nhà văn hóa học Hoa Kỳ Leslie White - người sáng lập ra trường
phái biểu trưng, có dự định khởi thảo một lý thuyết chung về văn hóa. Ông cho
rằng, văn hóa - đó là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có trong xã hội loài
người, có quy luật riêng của nó trong sự vận hành và phát triển. L.White xem
biểu tượng (symbol) là dấu hiệu chức năng của mọi người, khác với những dấu
hiệu ở động vật. Việc nghiên cứu văn hóa đã được tiến hành thông qua phân tích
những đặc điểm của những hình thái biểu tượng này hay khác, chứa đựng trong văn
hóa, như: những cội nguồn văn tự, nghi thức, thờ cúng, lễ thức. Những người kế
tục L.White (như E.Cassirer…) xem xét văn hóa như là cơ chế tạo ra tổng thể
những văn bản, còn văn bản là sự hiện thực hóa văn hóa.
Sự giải thích đầy hứng thú về biểu tượng còn được đặt ra trong
phạm vị phân tâm học. ở đây, biểu tượng biểu hiện không phải như thuộc tính
hoạt động hữu thức của con người, mà ngược lại - như khả năng biểu hiện duy
nhất và gián tiếp của những khởi nguyên vô thức trong tâm trạng cá thể và trong
văn hóa. Trong mối liên hệ này các ý tưởng của C. Jung là rất đặc sắc, khi ông
nghiên cứu những hình ảnh - biểu tượng phổ quát (những cổ mẫu) của vô thức tập
thể.
Iuri Lotman đã xác định văn hóa như là một tổng thể những thông
tin (không kể thông tin di truyền sinh học), những phương thức bảo tồn và tổ
chức thông tin. Các truyền thống khoa học khác nhau phân tích biểu tượng hoặc
ký hiệu đã dẫn đến ra đời môn ký hiệu học - khoa học nghiên cứu những thuộc
tính của hệ thống ký hiệu, hoặc các hệ thống ký hiệu, mà mỗi ký hiệu đều có thể
truyền đạt một ý nghĩa nhất định. Trường phái biểu tượng (ký hiệu học) trong
văn hóa học hiện nay đã phổ biến toàn thế giới.
I. Hâydinhga trong tác phẩm Kinh nghiệm nghiên cứu yếu tố chơi
trong văn hóa đã đề xuất một khái niệm đặc sắc về văn hóa. Trong sự xuất hiện
và phát triển của văn hóa thế giới, Hâydinhga đã mang đến cho trò chơi một ý
nghĩa đặc biệt, ông xem nó như là cơ sở của cuộc sống chung toàn nhân loại ở
bất cứ thời đại nào. Vai trò văn minh hóa của trò chơi biểu thị ở chỗ nó theo đuổi
các quy tắc được xác lập một cách tự nguyện, ở sự chống lại chủ nghĩa quyền uy,
ở việc cho phép có quyền lựa chọn khác, ở vắng mặt sự đe dọa của cái nghiêm
ngặt. Theo ý kiến ông thì văn hóa xuất hiện như là trò chơi trong quá trình
tiến hóa của nhân loại. Thờ cúng trong tôn giáo, thi ca, âm nhạc, vũ đạo.v.v…
đã trở thành những biểu hiện cơ bản của văn hóa.
Hâydinhga phân tích các yếu tố chơi trong ngôn ngữ, pháp đình,
chiến tranh, khoa học, thi ca, triết học, nghệ thuật, trong văn hóa các thời
đại khác nhau, nói riêng trong văn hóa La Mã cổ đại. Khẩu hiệu “Bánh mì và
trình diễn”, vai trò của hí trường trong các thành phố La Mã chứng minh ý nghĩa
của trò chơi trong sinh hoạt của nhà nước La Mã. Trong nền văn hóa trung cổ,
giới hiệp sĩ, công việc xét xử, điều lệ tố tụng, viện ghin-đi, trường học đều
là những yếu tố có mang tính chất vui chơi. Thời Phục Hưng - đó là vũ hội hóa
trang vui nhộn, cải trang để tham gia trò chơi huyền thoại đầy lý tưởng của quá
khứ. Tóc giả đã trở thành vật đại diện cho yếu tố vui chơi của thế kỷ XVII.
Nguyên lý vui chơi, tinh thần hồn nhiên trong cuộc đua tài hiếu thắng đặc trưng
cho các câu lạc bộ, hội văn chương, các nhà sưu tập, các hội bí mật và các phe
phái tôn giáo ở thế kỷ XVIII. Hâydinhga nhận thấy từ thế kỷ XX, yếu tố vui chơi
trong quá trình văn hóa đã dần dần trở nên giảm thiểu. Điều đó cũng có thể nhận
thấy rõ trong sự tiến hóa của trang phục nam giới, trong đó thay cho những cái
nơ, đai, quần lửng ngắn, những cam-dôn dài bằng bộ com-pơ-lê đồng loạt và những
đầu tóc rập theo một kiểu. Về sau, tinh thần thực dụng chủ nghĩa thâm nhập vào
trò chơi ngày càng mạnh mẽ hơn, trình diễn đại chúng đã trở thành những cuộc
trình diễn có tổ chức, được che đậy dưới cái tên hư cấu sáng tạo. Văn hóa mang
tính chất chống lại con người, cùng với sự xác lập các lý tưởng của xã hội tư
sản. Theo Hâydinhga, nhà nước, các đảng chính trị, các tổ chức, nhà thờ đã
không còn đủ sức mạnh để tạo cơ sở vững chắc cho nền văn minh nhân loại: trình
độ văn minh phụ thuộc vào sự thành công của một nhà nước, một chủng tộc hay một
giai cấp. Hâydinhga cho rằng: sự thống trị của con người đối với bản thân nó đã
trở thành nền tảng của văn hóa.
Trong triết học và văn hóa học ở nước Nga, tiếp cận hoạt động được
vận dụng khá phổ biến, trong khuôn khổ của phương pháp tiếp cận này, văn hóa
được xem như là quá trình hoạt động sáng tạo (A.Arnodov, E.Banler, V.Megiuev,
L.Kogan), hoặc văn hóa là phương thức đặc biệt của hoạt động người
(E.Markarian, M.Kagan…). Các đại biểu của phái thứ nhất xem văn hóa như là văn
hóa tinh thần, nó được xác định dưới dạng một quá trình sản xuất, bảo quản các
giá trị tinh thần. Phái thứ hai, trong đó E.Markarian cho rằng: văn hóa là cái
làm khu biệt giữa hoạt động sống của loài người với các hình thái của đời sống
sinh vật. Trong xã hội hoạt động sống của con người được chương trình hóa không
theo cách di truyền, mà thông qua các loại hành vi, xã hội hóa, được củng cố
trong truyền thống và trong kinh nghiệm xã hội. Những cơ chế ngoài sinh học sẽ
thay thế các cơ chế sinh học. Hệ thống các cơ chế và phương tiện này là văn
hóa. Trong tác phẩm “Bản chất của văn hóa”, V.Davidovits xem xét hoạt động và
văn hóa thông qua khái niệm “phương thức”. Trong trường hợp này văn hóa như là
phương thức của phương thức, nhưng các tác giả cho rằng, trong điều kiện xếp
chồng lên nhau thuật ngữ này vẫn hoàn toàn hợp lý.
Khái niệm hoạt động đã hấp dẫn bởi xu hướng nhân bản, các tác giả
của xu hướng này muốn chứng minh vai trò cơ bản của cá nhân như là sự khởi đầu
sáng tạo trong lịch sử nhân loại. Giáo sư ở Mát-xcơ-va I.Saitanov, trong cuốn
sách “Văn hóa: lý luận và các vấn đề” đã ghi nhận khái niệm văn hóa bao gồm: a)
Toàn bộ hoạt động sáng tạo của con người; b) Tổng thể kỹ năng và sự bảo đảm
thực hiện chúng; c) Kết quả của hoạt động này, biểu hiện cao nhất là trong nghệ
thuật và trong toàn bộ những cái do bàn tay người tạo ra. Nhà nghiên cứu lý
luận và lịch sử văn hóa nổi tiếng là A.Gurevits hiểu văn hóa không chỉ là toàn
bộ những thành tựu tinh thần của con người, mà còn là hệ thống những định hướng
sinh động của nó như là nội dung hiện thực trong ý thức mỗi thành viên của xã
hội. Thực ra mỗi con người đều là đại biểu của một nền văn hóa cụ thể, biến đổi
trong thời gian và không gian, vì thế cần chú ý nghiên cứu tình cảm, ý tưởng và
các động cơ của hành động, chứa đựng trong những con người thực tế của các thời
đại khác nhau. Nhiều nhà nghiên cứu đã đi đến kết luận về tính cấp thiết của
phân tích văn hóa học đối với con người và hình ảnh của nó trong văn hóa.
2. Sự giải thích đa dạng về khái niệm văn hóa tất yếu sẽ động chạm
đến một khái niệm đa nghĩa khác - văn minh. Nguồn gốc của từ văn minh khơi lên
từ chữ La tinh civis (công dân), nó đặc trưng cho đời sống dân sự (thành thị).
Người La mã hiểu văn minh là trình độ phát triển của đời sống thị dân, nhấn
mạnh đến tính chất ưu việt của họ trong các mối sinh hoạt và về chính trị, khác
biệt với đời sống các bộ lạc nguyên thủy, hoang dã sống vây quanh họ ở ngoài
thành thị. Trong một thời gian dài thuật ngữ văn minh được sử dụng để diễn đạt
các thuộc tính như: có giáo dục, lịch sự, tinh tế, ngược với khái niệm về tính
chất nông thôn, thô lậu. Từ cuối thế kỷ XVII thuật ngữ này đã phổ biến rộng rãi
trong các sách triết học ở Châu Âu. Về cơ bản văn minh đặc trưng cho sự thống
nhất của lịch sử toàn thế giới và cho sự tiến bộ của toàn thể loài người. Sự
phát triển văn hóa được xem như sự tiến bộ của văn minh.
Trong cơ cấu của thuyết văn minh, ý tưởng chiếm vị trí trung tâm
là ý tưởng về “trạng thái tự nhiên” của con người, cùng với các quyền sống, tự
do và sở hữu của nó.
Trong các tác phẩm của R.Ferguson, Ô.Mirabeau, P.Herdere và
Ph.Vonter, văn minh biểu hiện như là sự sản sinh ra lý trí, bảo đảm chính nghĩa
và sự thịnh vượng. ý tưởng về sự tiến bộ của văn minh cũng như tiến bộ của văn
hóa là khá phổ biến trong triết học cổ điển Đức (E.Kant, G.Hegel). Trong khi
đó, đối với các nhà xã hội không tưởng (J.J. Rút-xô), văn minh được xem như là
sự đe dọa đối với tính nhân bản, đạo đức, như là bạo lực đè nặng lên thiên
nhiên. Vì thế đã xuất hiện truyền thống đối lập giữa hai khái niệm văn hóa và
văn minh. Điều quan trọng được nhấn mạnh trong văn minh là sự đổi mới, thậm chí
là tiến trình lịch sử có khuynh hướng bạo lực, tách khỏi con đường của đời sống
tự nhiên. Văn minh thể hiện kinh nghiệm vật chất - kỹ thuật của nhân loại, còn
văn hóa - đó là kinh nghiệm tinh thần, khoa học và nghệ thuật. Văn minh nghiêng
về lý trí, văn hóa hướng về tinh thần. ý tưởng về lịch sử toàn thế giới được
khẳng định thành ý tưởng về sự thống nhất của văn hóa toàn nhân loại, gắn kết
thế giới trên cơ sở thống nhất về tinh thần, đối lập với văn minh có thiên
hướng bạo lực.
Thế kỷ XIX đã quảng bá một quan niệm xem xét văn minh thông qua sự
tích luỹ số lượng những nhân tố, xác định xã hội văn minh hóa cao hơn xã hội
tiền văn minh. Phương pháp tiếp cận này khởi đầu từ L.Morgan. trên sự giáp ranh
của văn minh nổi bật lên một số thành tố như: nâng cao năng suất trong hoạt
động kinh tế, tiếp tục phân công lao động, phân hóa xã hội, phát triển thủ
công, thương mại (xuất hiện nhà buôn và tiền), cơ cấu thành phố, xây dựng công
trình kiến trúc, văn tự… Biểu hiện chung và quan trọng nhất của tính văn minh
là: phân hóa xã hội và sự hình thành các quan hệ giai cấp, đi kèm với điều đó
là sự xuất hiện của sở hữu tư nhân và nhà nước.
Tiếp theo L.Morgan, Ph.Engels hình dung văn minh như là nấc thang
phát triển của xã hội, diễn ra sau hai thời kỳ mông muội và dã man.Văn minh
được nhìn nhận như một thời kỳ dài phát triển xã hội của các dân tộc riêng lẻ
và của thế giới nói chung, đặc trưng của thời kỳ này được xác định bằng các quan
hệ sản xuất thống trị.
Nhà sử học người Pháp Ph.Ghidô, một trong những người đầu tiên có
ý định giải quyết mâu thuẫn giữa ý niệm tiến bộ thống nhất của loài người với
tính đa dạng của tư liệu lịch sử - dân tộc chí đã phát hiện được, ông đặt ra cơ
sở lịch sử - tộc người cho quan niệm văn minh khi giả định rằng, có nhiều nền
văn minh địa phương đang tồn tại, chúng duy trì sự tiến bộ nói chung cho xã hội
loài người.
Về sau này nhà tư tưởng người Đức O. Spengler, trong tác phẩm
“Ngày tàn của châu âu” (1919) đã phủ nhận sự thống nhất và tính kế thừa trong
sự phát triển văn hóa loài người, không thừa nhận tính chỉnh thể của sự tiến bộ
lịch sử, ông đã đối lập văn hóa với văn minh. O. Spengler tin rằng, bất cứ nền
văn hóa nào khi đã đạt đến sự chín muồi , thì sẽ đi vào suy thoái, điều đó tất
yếu sẽ dẫn đến làm sụp đổ xã hội, cái xã hội mà nền văn hóa ấy phụ thuộc vào.
Các xã hội phương Tây và văn hóa của chúng đã trải qua thời phát triển cực
thịnh và hiện đang ở trong giai đoạn cuối cùng của sự suy thoái. Trong thời kỳ
nảy sinh văn hóa thì huyền thoại và tôn giáo có ý nghĩa ưu thế. Thời kỳ chín
muồi gắn liền với việc xây dựng các hệ thống triết học, phát triển khoa học và
nghệ thuật. Giai đoạn cuối cùng đặc trưng bởi sự gia tăng của chủ nghĩa cá
nhân, sự quảng bá các hệ thống triết học và sự phát triển khoa học. O.Spengler
gọi giai đoạn cuối cùng này là văn minh, nó đánh dấu bước chuyển từ sáng tạo
đến lặp lại, từ tính chất độc đáo của những giá trị đến sản xuất hàng loạt. Ông
đã gắn kết “Ngày tàn của châu Âu” và linh cảm về cuộc khủng hoảng đang tới gần
với giai đoạn văn minh, với những đặc tính như: vô thần, chủ nghĩa thực dụng
thô bỉ, sùng bái lối sống tiêu dùng. Các ý tưởng của O.Spengler rất cận kề với
các quan điểm của bộ phận các nhà tư tưởng Nga vào các thế kỷ XIX-XX.
Ở nước Nga khái niệm văn minh xuất hiện vào thế kỷ XIX, nó gắn
liền với số phận lịch sử của nhân dân Nga. Từ “Bút ký triết học” đầu tiên của
P.Tradaev người ta đã làm dấy lên cuộc tranh luận giữa các học giả phương Tây
và những người theo chủ nghĩa Xla-vian về vị trí của nước Nga trong cộng đồng
thế giới. Các học giả phương Tây đã đồng nhất một cách đơn giản văn minh nói
chung với văn minh Tây Âu. Các nhà Xla-vian học thì nhấn mạnh vào đặc sắc dân
tộc của nước Nga, dữ kiện này chứng tỏ rằng, trong lịch sử nước Nga đã không đi
cùng đường với châu Âu. Điều có ý nghĩa đáng kể trong cuộc tranh luận này là lý
thuyết về các loại hình văn hóa - lịch sử của N.Danilevsky, được tóm tắt trình
bày trông cuốn sách “Nước Nga và châu Âu” (1868), phần nhiều cũng là dựa theo ý
tưởng dự đoán của O.Spengler. Theo ý kiến N.Danilevsky, thì nền văn hóa, văn
minh mang tính nhân loại phổ biến chưa bao giờ từng tồn tại. Sự tiến bộ không
hề tạo ra đặc quyền quyết định của phương Tây hoặc châu Âu, mà đọng lại ở
phương Đông và châu á. Mỗi nền văn hóa giống như một cơ thể sống, nó có số phận
riêng, thời kỳ tồn tại của văn minh riêng lẻ có thể còn dài, nhưng không thể là
vô hạn.
N.Berdiaev đã kế tục quan niệm về sự đối lập giữa hai khái niệm
văn hóa, văn minh. Theo quan niệm của ông thì văn hóa bị lây nhiễm bởi thói xấu
của văn minh. Văn minh được xem như là lĩnh vực hành động của quần chúng, nó
biểu hiện sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất, sự thống trị của “chủ nghĩa hiện
thực kinh tế”. ở đây có hàm nghĩa nói tới quan điểm duy vật về lịch sử.
Trong triết học và trong văn hóa Nga (L.Tolstoi, V.Soloviev), các
khía cạnh tiêu cực của sự phát triển văn minh như: tính chất một chiều của tiến
bộ về vật chất - kỹ thuật, sự mất mát tính toàn vẹn của nhân cách, làm tổn hại
đến thiên nhiên. Quá trình hình thành nền văn minh thế giới được xem xét như là
một trong những điều kiện quan trọng nhất và là hệ quả của bước chuyển của các
nước phát triển ở châu Âu sang chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XVI-XVIII).
Người kế tục O.Spengler trong việc nghiên cứu các nền văn minh
riêng lẻ là A.Toynbee. Ông cũng xem văn minh là giai đoạn kết thúc của văn hóa
và xác định nó như một hệ thống văn hóa - lịch sử giới hạn trong một thời -
không gian, nổi bật lên bởi sự thống nhất tương đối của đời sống tinh thần, xã hội,
chính trị và kinh tế. Mỗi nền văn minh đang sống động, khi nó vẫn còn đưa ra
được những đáp ứng trả lời các câu hỏi của tình huống lịch sử, tuy vậy, khi xã
hội không còn khả năng đưa ra những câu trả lời thì nó sẽ tiếp cận với sức mạnh
của vũ khí, văn minh sẽ chấm dứt con đường đi của mình và tiến tới diệt vong.
Trong thế kỷ XX nhà xã hội học Hoa Kỳ Alvin Toffler trong cuốn
sách “Làn sóng thứ ba” đã đưa ra một cách hiểu độc đáo về quá trình văn minh.
Quá trình lịch sử của sự phát triển văn minh trải qua nhiều giai đoạn, giống
như những làn sóng xô đẩy và va đập vào nhau, chúng sản sinh ra các mâu thuẫn
và những trở ngại xã hội. Ba làn sóng được xem là các loại hình lịch sử của văn
minh: văn minh nông nghiệp tồn tại đến trước các thế kỷ XVII-XVIII, văn minh kỹ
nghệ bắt đầu từ thời đại xuất hiện cách mạng công nghiệp, đây là loại hình văn
minh mới, được đặc định bởi chủ nghĩa nhân đạo cá nhân, phát hiện những khả
năng rộng rãi nhất để biểu hiện các tài năng sáng tạo vốn có ở con người. Sự
phục hưng văn minh diễn ra do kết quả của sự hình thành xã hội thông tin hậu
công nghiệp, mà đặc trưng của nó là sự cá thể hóa cao độ các lĩnh vực kinh tế,
xã hội và tinh thần cũng như khả năng đổi mới - nhanh chóng diễn ra trong xã
hội đầy biến đổi. Chủ nghĩa nhân đạo sẽ là cái mới cơ bản trong hệ thống giá
trị của xã hội này. Cách tiếp cận trên đây trở thành dẫn chứng của nhận thức
lạc quan về quá trình văn minh.
Nhà triết học Tây Ban Nha Ortega y Gasset - một trong những nhà tư
tưởng vĩ đại nhất của thế kỷ XX đã bác bỏ các ý tưởng của O.Spengler về sự đối
lập văn hóa với văn minh. Trong tác phẩm “Sự nổi dậy của quần chúng”, ông xem
xét tính kế thừa trong sự phát triển văn hóa và văn minh với tính cách là quy
luật phổ biến của lịch sử. Vì vậy toàn bộ những thành tựu văn hóa, đã được các
dân tộc châu Âu tích luỹ trong quá khứ cần phải được họ bảo vệ cho hiện nay và
cho tương lai. Cuộc khủng hoảng diễn ra ở châu Âu vào đầu thế kỷ XX không có
nghĩa là kết thúc truyền thống văn hóa châu Âu. Ông chứng minh rằng, không có
“Ngày tàn của châu Âu”, theo tác giả, sự cần thiết đối với châu Âu hiên nay là
một cuộc phục hưng lịch sử mới. Bằng khái niệm “Châu Âu” Ortega y Gasset đã chỉ
ra tất cả các vùng, trong quá trình phát triển của chúng, đều đã khai thác
những thành quả của truyền thống văn hóa châu Âu. Ông nhìn thấy sự khủng hoảng
của văn minh và văn hóa biểu thị ở sự xuất hiện của “văn hóa đại chúng” trong
xã hội. “Con người đại chúng” đã đánh mất cá tính, mất phẩm chất tinh thần và
đạo đức. Quần chúng phi cá tính và hay gây hấn sẽ trở thành kẻ phá hoại văn
hóa. Xã hội đại chúng đối lập với giới tinh hoa, mà đặc trưng ở họ là đã vươn
tới sự hoàn thiện về trí tuệ và đạo đức, có sáng kiến lịch sử, có năng lực thực
hiện các nhiệm vụ chung của dân tộc và của nhân loại. Ortega y Gasset đã gắn
kết sự phục hưng văn minh và văn hóa với vai trò và ý nghĩa cao cả của giới
tinh hoa văn hóa.
Trong văn hóa học hiện thời ở nước Nga có thể chia ra hai xu hướng
chính trong quan niệm về mối tương quan giữa hai khái niệm văn hóa và văn minh.
Chẳng hạn, khi gắn kết văn hóa với phương thức đặc biệt của hoạt
động người, E.Markarian khẳng định văn minh như là giai đoạn phát triển của văn
hóa, những nét đặc trưng của nó là: có cơ cấu giai cấp, nhà nước, quá trình đô
thị hóa, xuất hiện văn tự…
Một quan niệm khác về mối tương quan giữa văn minh và văn hóa do
một số nhà khoa học chủ trương như V.Megiuev, E.Banlere,.v.v…, họ xem xét văn
hóa như là quá trình hoạt động sáng tạo của cá nhân, như sự khởi đầu sáng tạo
của quá trình lịch sử, còn văn minh là hình thái tổ chức của đời sống xã hội,
tạo điều kiện cho văn hóa vận hành. Từ đây, có thể nhận thấy: mâu thuẫn giữa
văn hóa và văn minh theo hai xu hướng trên là mâu thuẫn giữa quá trình sáng tạo
và hình thái của tổ chức.
Tóm lại, các khái niệm văn minh và văn hóa nổi bật lên ở tính phức
tạp và tính đa nghĩa của chúng. Chúng tôi quan niệm, sẽ là đúng hơn nếu cho
rằng hai khái niệm này có thể bổ túc cho nhau. Nếu văn hóa xác định con người ở
thước đo sự phát triển của nó, ở các phương thức tự biểu hiện trong các dạng hoạt
động khác nhau, thì khái niệm văn minh xác định sự tồn tại xã hội của bản thân
văn hóa. Nền văn minh của thế giới hiện đại không phải là điểm xuất phát, mà là
kết quả của quá trình tiến hóa phức tạp, lâu dài của những nền văn minh địa
phương riêng lẻ đầu tiên, trong đó có những nền văn minh đã bị hủy hoại, bị
tiêu diệt một cách thảm hại.
Tác giả: N.V.SISOVA
Hoàng Vinh (dịch)
Nguồn: http://www.vae.org
